|
DÍNH LIỀN SỚM KHỚP SỌ
Dính liền sớm khớp sọ (Craniosynostosis) là sự kết hợp sớm hay dính
liền sớm của các đường khớp sọ. Có thể chỉ dính một đường khớp duy nhất
chẳng hạn như đường khớp trán (Tật sọ hình tam giác - trigonocephaly),
đường trục dọc giữa (Tật đầu hình thuyền - scaphocephaly), đường khớp
trán đỉnh một bên (Tật đầu nghiêng - plagiocephaly), và đường khớp trán
đỉnh hai bên (tật đầu ngắn - brachycephaly) hoặc cũng có thể nhiều đường
khớp cùng lúc. Nó làm cho đầu phát triển bất thường và do đó phải chỉnh
lại vòm đầu và các biến dạng kèm theo của hộp sọ. Các hội chứng dính
liền sớm khớp sọ là do dính sớm nhiều đường khớp sọ gây ra một loạt các
dấu hiệu và triệu chứng đặc trưng về hình dạng và sự phát triển bất
thường của đầu và mặt. Các hội chứng dính liền sớm khớp sọ điển hình là
hội chứng Aperts, Crouzons, Pfeiffer, Carpenter, Saethre-Chotzen, và hội
chứng dị thường Kleeblattschadel (liền tất cả các khớp sọ). Trong các
hội chứng này, đầu và mặt của trẻ phát triển bất thường và do đó phải
phẫu thuật sửa chữa nhiều lần để có hiệu quả tối ưu về mặt chức năng và
thẩm mỹ. Tật đầu ngắn (Brachycephaly)
Dị dạng trong tật đầu ngắn bao gồm đầu rộng bất thường và trán cao.
Sự phát triển hình dạng tự nhiên làm chiều dài sọ bị ngắn lại theo chiều
từ trước ra sau. Tật đầu ngắn kèm theo liền sớm các khớp sọ và cũng tồn
tại trong nhiều hội chứng bất thường, chẳng hạn các hội chứng Apert,
Crouzons, Pfeiffer, Saethre-Chotzen và Carpenters. Hội chứng
Kleeblattschadel
Hội chứng Kleeblattschadel được mô tả là đầu hình 3 khối hoặc sọ biến
dạng hình hoa 3 lá do tất cả các khớp sọ bị dính. Nhìn từ trước, hình
dạng sọ giống hoa 3 lá. Phẫu thuật viên giỏi có thể chỉnh hình dạng đầu
của bệnh nhân nhìn bình thường hơn. Tật đầu nhọn (Oxycephaly)
Tật đầu nhọn là một dạng dính liền sớm khớp sọ có đầu hình chóp cao
bất thường do dính cả đường trục dọc giữa và đường khớp trán đỉnh.
Tật đầu nghiêng (Plagiocephaly)
Loại dính liền sớm khớp sọ này gây ra bất đối xứng cả sọ và mặt và
đầu có hình dạng nghiêng về một bên. Phía trước do do dính một trong các
khớp trán đỉnh. Phía sau do khớp đỉnh chẩm dính sớm gây lệch chẩm.
Tật đầu hình thuyền (Scaphocephaly)
Đầu hình dạng con thuyền do dính sớm cả thóp và đường khớp trục dọc
giữa. Dạng dính liền sớm khớp sọ này hay gặp nhất. Thường là lành tính
và áp lực nội sọ ở giới hạn bình thường. Tuy nhiên, nên phẫu thuật để
chỉnh hình dạng đầu nhìn bình thường hơn.
Tật sọ hình tam giác (Trigonocephaly)
Tật sọ hình tam giác gây nên trán có hình tam giác. Trán hẹp nhô ra
và hai mắt gần nhau. Nhìn từ trên xuống thấy trán hình tam giác và mũi
nhọn. Dị dạng này do dính sớm khớp trán và có thể chỉnh bằng can thiệp
phẫu thuật.
HỘI CHỨNG CROUZON VÀ CÁC HỘI CHỨNG KHÁC
Hội chứng Crouzon
Hội chứng Crouzon, hay rối loạn phát triển xương sọ mặt, là biến dạng
hiếm gặp, gần giống hội chứng Apert. Mặc dù nhiều thiếu hụt thể chất có
trong hội chứng apert không có ở bệnh nhân mắc hội chứng Crouzon, cả hai
hội chứng này đều có nguyên nhân di truyền. Trong số 10.000 trẻ sinh ra
mỗi ngày tại Hoa Kỳ, xác suất có một trẻ mắc hội chứng Crouzon.
Đặc trưng của Hội chứng Crouzon
Bệnh nhân mắc hội chứng Crouzon có 3 điểm đặc trưng:
- Dính liền sớm khớp sọ thường xảy ra ở khớp trán đỉnh và khớp
đỉnh chẩm, đôi khi ở trục đứng dọc
- Phần giữa mặt kém phát triển với xương gò má thấp, hoặc lồi mắt
- Lồi mắt biểu hiện nhãn cầu lồi ra ngoài do hốc mắt rất nông.
Bệnh nhân có thể bị lác mắt và/hoặc hai mắt xa nhau.
Một số dấu hiệu thường gặp khác là các rối loạn thị giác do các cơ
chuyển động mắt mất cân đối và khiếm thính do nhiễm khuẩn tai tái phát
nhiều lần. Khả năng phát triển tinh thần của bệnh nhân thường ở trong
mức giới hạn bình thường, tuy nhiên, có một số trường hợp báo cáo có
chậm phát triển tinh thần.
Nguyên nhân của hội chứng Crouzon
Nguyên nhân của hội chứng Crouzon cũng giống như nhiều hội chứng dính
liền sớm khớp sọ liên quan đến việc biến đổi gen. Nó xảy ra đơn lẻ và
cực kỳ hiếm gặp. Thông thường cha mẹ không bị mắc và ít có nguy cơ xảy
ra cho những đứa con tiếp theo. Con của những bệnh nhân mắc hội chứng
Crouzon có khoảng 50-60% di truyền hội chứng Crouzon do đặc tính trội
của gen này.
Điều trị hội chứng Crouzon
Trẻ em mắc hội chứng Crouzon thường phát triển trí tuệ bình thường
đôi khi thấy có giảm trí tuệ. Bởi vì phần giữa mặt kém phát triển và vòm
miệng nhô cao, thường gặp tắc nghẽn đường thở ở mũi. Nói và phát âm có
thể không bình thường do mũi nhỏ, vòm miệng nhô cao, hoặc khớp cắn lệch.
Có thể có khe hở vòm miệng ở hội chứng Crouzon và có thể sửa chữa như
các khe hở vòm miệng khác. Cũng giống như các bệnh nhân có khe hở vòm
miệng khác, có thể khiếm thính do nhiễm khuẩn tai tái phát nhiều lần.
Với điều trị đúng cách thì sẽ cải thiện được vấn đề này.
Phẫu thuật nhiều giai đoạn là phương pháp điều trị chung đối với bệnh
nhân mắc hội chứng Crouzon. Nó được tiến hành trong năm đầu đời để giải
phóng các đường khớp sọ cho phép có đủ thể tích hộp sọ để não phát triển
và nở rộng một cách bình thường. Cần tái cấu trúc hình dạng hộp sọ nhiều
khi trẻ lớn dần để có kết quả tốt nhất. Ngoài ra, tùy vào mức độ biến
dạng sọ, quá trình phẫu thuật có thể tiến hành một hoặc hai giai đoạn.
Nều cần có thể phẫu thuật hàm và phần giữa mặt để cho phép đủ thể tích
hốc mắt và làm giảm lồi mắt sửa chữa khớp cắn cho phù hợp và tạo nên bộ
mặt nhìn bình thường hơn.

Ảnh nhìn thẳng trước khi phẫu thuật
của bệnh nhân 5 tuổi mắc hội chứng Crouzon với lồi mắt và kém phát triển
phần giữa mặt. Ảnh nhìn thẳng 3 năm sau phẫu thuật tạo hình mở xương
theo phương pháp Lefort III. Ảnh nhìn nghiêng trước và sau phẫu thuật.

Ảnh nhìn thẳng trước khi phẫu thuật của bệnh nhân 3
tuổi mắc hội chứng Crouzon với giảm thị lực do tăng áp lực nội sọ. Ảnh
nhìn thẳng sau phẫu thuật mở rộng vòm hộp sọ và phương pháp Lefort III.
Ảnh nhìn nghiêng trước và sau phẫu thuật.

Ảnh nhìn thẳng trước khi phẫu thuật của bệnh nhân 3
tuổi mắc hội chứng Crouzon với giảm thị lực do tăng áp lực nội sọ. Ảnh
nhìn thẳng sau phẫu thuật mở rộng vòm hộp sọ và phương pháp Lefort III.
Ảnh nhìn nghiêng trước và sau phẫu thuật.
Hội chứng Apert
Hội chứng Apert là chứng sọ mặt tương đối hiếm gặp. Hội chứng Apert
xảy ra với xác suất một phần 160.000 trẻ sinh ra. Hội chứng Apert có thể
di truyền từ người lớn mắc bệnh với xác suất 50%, hoặc có thể co đột
biến tự phát.
Đặc trưng của Hội chứng Apert
Hội chứng Apert đã được Frederick Apert mô tả vào năm 1942 và có các
điểm đặc trưng:
- Sọ hình tháp do dính sớm khớp sọ
- Kém phát triển phần giữa mặt dẫn đến xương gò má thấp và lồi mắt
- Khớp cắn lệch
- Các bất thường chi chẳng hạn như dính các ngón giữa của tay và
chân
Một số đặc điểm khác thường thấy trong hội chứng Apert là các rối
loạn thị giác do các cơ chuyển động mắt mất cân đối và khiếm thính
do nhiễm khuẩn tai tái phát nhiều lần và mụn trứng cá ở nhiều mức độ.
Có vài trường hợp suy giảm trí tuệ nhưng cũng có bệnh nhân có trí
tuệ bình thường. Trẻ có hội chứng Apert có dính xương của các ngón
tay và chân. Có thể gặp các dị dạng tim và tiêu hóa ở hội chứng
Apert mà không gặp ở các hội chứng dính sớm khớp sọ khác.
Nguyên nhân gây ra hội chứng Apert
Nguyên nhân căn bản gây ta hội chứng Apert có liên quan đến biến
đổi gen đơn độc của yếu tố tăng trưởng nguyên bào sợi. Nó xảy ra đơn
lẻ và cực kỳ hiếm gặp. Hầu hết các trường hợp trong hội chứng Apert,
biến dạng xảy ra do bất thường gen mà không tìm ra nguyên nhân cụ
thể. Thông thường cha mẹ không bị mắc và ít có nguy cơ xảy ra cho
những đứa con tiếp theo. Con của những bệnh nhân mắc hội chứng Apert
có khoảng 50-60% di truyền hội chứng Apert. Điều trị hội
chứng Apert
Trẻ mắc hội chứng Apert có thể phát âm bất thường. Thường không
có âm mũi do phần giữa mặt kém phát triển, mũi nhỏ, và vòm miệng mềm
rất dài. Nếu có khe hở vòm miệng, bệnh nhân mắc hội chứng Apert cũng
có thể phát âm không có âm mũi. Phát âm thường không rõ do khớp cắn
lệch và vòm miệng nhô cao. Nghe kém hoặc chậm phát triển toàn thể
cũng có thể ảnh hưởng đến phát triển ngôn ngữ và khả năng phát âm.
Phẫu thuật nhiều giai đoạn là kế hoạch điều trị đối với bệnh nhân
mắc hội chứng Apert. Thời điểm tốt nhất để giải phóng các đường khớp
sọ dính trong khoảng từ ba đến sáu tháng tuổi; có thể thực hiện tới
18 tháng tuổi. Phẫu thuật sớm cho phép não trẻ có không gian để phát
triển. Ngoài việc giải phóng các đường khớp sọ, xương trán biến dạng
và các xương khác sẽ được tái định vị để sửa chữa lồi mắt và dị dạng
phần trên của mặt. Bác sỹ phẫu thuật thẩm mỹ và bác sỹ ngoại thần
kinh sẽ kết hợp mổ để có hiệu quả cao nhất. Nếu phần giữa mặt và
phần trên hàm không phát triển đúng mức thì nên phẫu thuật tiếp khi
trẻ lớn. Dính tay thường được tách trong những năm đầu đời để tay
thẳng hơn và chức năng tốt hơn. Đôi khi, có thể phải phẫu thuật
nhiều lần để trẻ có đầy đủ chức năng hoạt động.

Ảnh nhìn thẳng trước khi phẫu thuật của bệnh nhân
8 tuổi sau mổ tái cấu trúc vòm sọ lần đầu ở 3 tháng tuổi. Ảnh nhìn
thẳng 2 năm sau phẫu thuật mở rộng vòm hộp sọ lần hai và phương pháp
Lefort III. Ảnh nhìn nghiêng trước phẫu thuật cho thấy trán thụt vào
và lồi mắt cũng như tăng áp lực nội sọ. Ảnh nhìn nghiêng 2 năm sau
phẫu thuật chỉnh hình. Hội chứng Pfeiffer
Hội chứng Pfeiffer, cũng như các hội chứng dính liền sớm khớp sọ
khác, do nguyên nhân đột biến gen. Biểu hiện hội chứng Pfeiffer cũng
giống như các triệu chứng của hội chứng Crouzon và bao gồm ngón chân
cái và ngón tay cái to.
Đặc trưng của Hội chứng Pfeiffer
Bệnh nhân mắc hội chứng Pfeiffer có các bất thường sau:
- Dính liền sớm khớp sọ thường xảy ra ở khớp trán đỉnh và khớp
đỉnh chẩm, đôi khi ở trục đứng dọc
- Phần giữa mặt kém phát triển với xương gò má thấp, hoặc lồi
mắt
- Lồi mắt biểu hiện nhãn cầu lồi ra ngoài do hốc mắt rất nông.
Bệnh nhân có thể bị lác mắt và/hoặc hai mắt xa nhau.
- Ngón chân cái và ngón tay cái to.
Một số dấu hiệu thường gặp khác là các rối loạn thị giác do các
cơ chuyển động mắt mất cân đối và khiếm thính do nhiễm khuẩn tai tái
phát nhiều lần. Khả năng phát triển tinh thần của bệnh nhân thường ở
trong mức giới hạn bình thường, tuy nhiên, có một số trường hợp báo
cáo có chậm phát triển tinh thần.
Nguyên nhân của hội chứng Pfeiffer
Nguyên nhân của hội chứng Pfeiffer cũng giống như nhiều hội chứng
dính liền sớm khớp sọ liên quan đến việc biến đổi gen. Hầu hếtt các
trường hợp là đơn lẻ và cực kỳ hiếm gặp. Thông thường cha mẹ không
bị mắc và ít có nguy cơ xảy ra cho những đứa con tiếp theo. Con của
những bệnh nhân mắc hội chứng Pfeiffer có khoảng 50-60% di truyền
hội chứng Pfeiffer do đặc tính trội của gen này.
Điều trị hội chứng Pfeiffer
Trẻ em mắc hội chứng Pfeiffer thường phát triển trí tuệ bình
thường đôi khi thấy có giảm trí tuệ. Bởi vì phần giữa mặt kém phát
triển và vòm miệng nhô cao, thường gặp tắc nghẽn đường thở ở mũi.
Nói và phát âm có thể không bình thường do mũi nhỏ, vòm miệng nhô
cao, hoặc khớp cắn lệch. Có thể có khe hở vòm miệng ở hội chứng
Pfeiffer và có thể sửa chữa như các khe hở vòm miệng khác. Cũng
giống như các bệnh nhân có khe hở vòm miệng khác, có thể khiếm thính
do nhiễm khuẩn tai tái phát nhiều lần. Với điều trị đúng cách thì sẽ
cải thiện được vấn đề này.
Phẫu thuật nhiều giai đoạn là phương pháp điều trị chung đối với
bệnh nhân mắc hội chứng Pfeiffer. Nó được tiến hành trong năm đầu
đời để giải phóng các đường khớp sọ cho phép có đủ thể tích hộp sọ
để não phát triển và nở rộng một cách bình thường. Cần tái cấu trúc
hình dạng hộp sọ nhiều khi trẻ lớn. Nều cần có thể phẫu thuật hàm và
phần giữa mặt để cho phép đủ thể tích hốc mắt và làm giảm lồi mắt
sửa chữa khớp cắn cho phù hợp và tạo nên bộ mặt nhìn bình thường hơn.
Mặc dù có dị dạng lớn tay và chân ở bênh nhân mắc hội chứng Pfeiffer
nhưng thông thường chức năng hoạt động đầy đủ do đó không cần phẫu
thuật chỉnh hình tay.

Ảnh nhìn thẳng trước khi phẫu thuật của bệnh nhân
5 tuổi mắc hội chứng Pfeiffer. Ảnh nhìn thẳng sau phẫu thuật tái cấu
trúc sọ trán và phương pháp Lefort III. Ảnh nhìn nghiêng trước và
sau phẫu thuật.
Hội chứng Saethre-Chotzen
Hội chứng Saethre-Chotzen là dị dang hiếm gặp gần giống hội chứng
Crouzon và cả hai hội chứng đều co nguyên nhân di truyền.
Đặc trưng của Hội chứng Saethre-Chotzen
Bệnh nhân mắc hội chứng Saethre-Chotzen có đặc điểm sau:
- Dính liền sớm khớp sọ thường xảy ra ở khớp trán đỉnh và khớp
đỉnh chẩm, đôi khi ở trục đứng dọc
- Phần giữa mặt kém phát triển với xương gò má thấp, hoặc lồi
mắt
- Lồi mắt biểu hiện nhãn cầu lồi ra ngoài do hốc mắt rất nông.
Bệnh nhân có thể bị lác mắt và/hoặc hai mắt xa nhau.
- Tóc mọc thấp
- Sụp mi trên hai bên bẩm sinh hoặc mi trên rủ
Một số dấu hiệu thường gặp khác là các rối loạn thị giác do các
cơ chuyển động mắt mất cân đối hoặc thiếu cơ vận động thường được
phẫu thuật sửa chữa. Sụp mi trên hai bên thường thấy ở các bệnh nhân
này. Có thể khiếm thính do nhiễm khuẩn tai tái phát nhiều lần. Khả
năng phát triển tinh thần của bệnh nhân thường ở trong mức giới hạn
bình thường, tuy nhiên, có một số trường hợp báo cáo có chậm phát
triển tinh thần.
Nguyên nhân của hội chứng Saethre-Chotzen
Nguyên nhân của hội chứng Saethre-Chotzen cũng giống như nhiều
hội chứng dính liền sớm khớp sọ liên quan đến việc biến đổi gen. Hầu
hếtt các trường hợp là đơn lẻ và cực kỳ hiếm gặp. Thông thường cha
mẹ không bị mắc và ít có nguy cơ xảy ra cho những đứa con tiếp theo.
Con của những bệnh nhân mắc hội chứng Saethre-Chotzen có khoảng
50-60% di truyền hội chứng do đặc tính trội của gen này.
Điều trị hội chứng Saethre-Chotzen
Trẻ em mắc hội chứng Saethre-Chotzen thường phát triển trí tuệ
bình thường đôi khi thấy có giảm trí tuệ. Bởi vì phần giữa mặt kém
phát triển và vòm miệng nhô cao, thường gặp tắc nghẽn đường thở ở
mũi. Nói và phát âm có thể không bình thường do mũi nhỏ, vòm miệng
nhô cao, hoặc khớp cắn lệch. Có thể có khe hở vòm miệng ở hội chứng
này và có thể sửa chữa như các khe hở vòm miệng khác. Cũng giống như
các bệnh nhân có khe hở vòm miệng khác, có thể khiếm thính do nhiễm
khuẩn tai tái phát nhiều lần. Những bệnh nhân này cũng có thể có vấn
đề về thị lực. Sụp mi trên và mất cân bằng co thiếu một số cơ mắt có
thể làm vấn đề này nặng hơn. Phẫu thuật thường được dùng để chữa dị
dạng này. Với điều trị đúng cách thì sẽ cải thiện được vấn đề này.
Phẫu thuật nhiều giai đoạn là phương pháp điều trị chung đối với
bệnh nhân mắc hội chứng Saethre-Chotzen. Nó được tiến hành trong năm
đầu đời để giải phóng các đường khớp sọ cho phép có đủ thể tích hộp
sọ để não phát triển và nở rộng một cách bình thường. Cần tái cấu
trúc hình dạng hộp sọ nhiều khi trẻ lớn. Ngoài ra, nều cần có thể
phẫu thuật hàm và phần giữa mặt để cho phép đủ thể tích hốc mắt và
làm giảm lồi mắt sửa chữa khớp cắn cho phù hợp. Phẫu thuật cơ mắt
thường được tiến hành bởi bác sỹ mắt nhi để sữa chữa sự mất cân bằng
trong cấu trúc cơ mắt cũng như sụp mi mắt. Hội chứng Carpenters
Hội chứng Carpenters là chứng sọ mặt rất hiếm gặp. Cho đến nay,
chỉ có khoảng 40 trường hợp được báo cáo và nó xảy ra do gen di
truyền nhiễm sắc thể lặn.
Đặc trưng của Hội chứng Carpenters
Bệnh nhân mắc hội chứng Carpenters có đặc điểm sau:
- Sọ hình tháp
- Giảm chiều cao
- Béo phì
- Chậm phát triển tinh thần
Kèm theo các dị tật này là hộp sọ lệch được mô tả như hình hoa 3
lá do dính liền sớm khớp sọ. Cũng có biểu hiện mắt hơi xếch, có nếp
quạt, cũng như các dị dạng mắt. Bệnh nhân có tai thấp, cổ ngắn, và
hàm răng nhỏ. Bệnh nhân có chậm phát triển tinh thần từ nhẹ tới nặng,
mặc dù có trường hợp trí tuệ bình thường được báo cáo.
Nguyên nhân Chưa rõ nguyên nhân của dị dạng
này.Hội chứng này cực kỳ hiếm gặp. Mặc dù có báo cáo vài trường hợp
anh chị em ruột mắc bệnh, thông thường cha mẹ không bị mắc và ít có
nguy cơ mắc hội chứng Carpenters xảy ra cho những đứa con tiếp theo.
Điều trị
Bệnh nhân mắc hội chứng Carpenters có khó khăn khi phát âm do vòm
miệng cong và nhô rất cao. Bệnh nhân phát triển hạn chế. Thường có
chiều cao thấp.
Do cực kỳ hiếm gặp, điều trị phụ thuộc rất nhiều vào tùy từng
bệnh nhân. Thường phẫu thuật trong năm đầu đời để sửa chữa dị dạng
sọ. Phẫu thuật trước hết cho phép có đủ thể tích hộp sọ để não phát
triển. Tùy mức độ dị dạng mà cần phẫu thuật một hoặc hai giai đoạn.
Nều cần có thể phẫu thuật hàm và phần giữa mặt để cho phép đủ thể
tích hốc mắt và làm giảm lồi mắt sửa chữa khớp cắn cho phù hợp.
Chỉnh hình tay được bác sỹ chuyên khoa ngoại tay để có kết quả tốt
nhất.
Nguồn: International Craniofacial Institute -
www.craniofacial.net
® Ghi
rõ nguồn "dulichchuabenh.vn" khi phát hành lại thông tin từ website
này dưới mọi hình thức. |