|
|
|
|
|
BỆNH GÚT VÀ CÁC BỆNH KHỚP TINH THỂ KHÁC - Antonio J. Reginato |
| TINH THỂ HỌC BỆNH GÚT VÀ VIÊM KHỚP |
| |
| Việc sử dụng kính hiển vi phân cực trong phân tích chất lỏng
hoạt dịch và các ứng dụng tinh thể học khác; chẳng hạn như kính
hiển vi điện tử, phân tích nguyên tố phân tán năng lượng, nhiễu
xạ tia X; đã xác định vai trò khác nhau của vi tinh thể trong
viêm khớp cấp tính, mãn tính và viêm quanh khớp bao gồm
monosodium urate (MSU), calcium pyrophosphate dihydrate (CPPD),
calcium hydroxyapatite (HA), và calcium oxalate (CaOx). Mặc dù
có sự khác biệt trong hình thái học tinh thể, hóa học và tính
chất vật lý, các biểu hiện lâm sàng do lắng đọng MSU, CPPD, HA,
và CaOx không thể phân biệt được (Bảng 313-1). Trước khi có kỹ
thuật tinh thể học trong môn học bệnh thấp, rất nhiều viêm khớp
gút do MSU nhưng trên thực tế là không phải. Simkin đã đề xuất
rằng nên dùng thuật ngữ chung “Gút” để mô tả toàn bộ các nhóm
viêm khớp do tinh thể (Gút MSU, gút CPPD, gút HA, và gút CaOx).
Khái niệm này nhấn mạnh thêm các biểu hiện lâm sàng giống hệt
nhau của các loại gút và cần phải tiến hành phân tích chất lỏng
hoạt dịch để phân biệt các loại tinh thể có liên quan (Bảng
313-1). Khi có triệu chứng viêm khớp hoặc viêm quanh khớp cấp
tính, chọc hút và phân tích dịch là quan trọng nhất để đánh giá
khả năng nhiễm khuẩn và nhận diện loại tinh thể hiện hữu. Chỉ
dùng kính hiển vi phân cực có thể nhận diện hầu hết các tinh thể
điển hình và cho phép chẩn đoán. Tuy nhiên, HA là một ngoại lệ.
Ngoài việc xác định chất hoặc tổ chức kết tinh đặc trưng, chất
lỏng hoạt dịch là không đặc trưng, và chất lỏng hoạt dịch có thể
viêm hoặc không viêm. |
| |
| GÚT MONOSODIUM URATE |
| |
| Gút MSU là một bệnh chuyển hóa thường ảnh hưởng từ tuổi
trung niên đến tuổi già và phụ nữ sau mãn kinh. Điển hình gồm
việc tích tụ axít uríc, tăng axit uric huyết, viêm khớp cấp và
mãn tính theo chu kỳ, và lắng đọng tinh thể MSU tại cục sạn
(tophi) mô liên kết và thận. |
| |
| Viêm khớp cấp và mãn tính |
| |
| Viêm khớp cấp là biểu hiện lâm sàng sớm thường gặp nhất của
Gút MSU. Thông thường thì ban đầu chỉ có một khớp bị ảnh hưởng,
nhưng gút cấp tính quanh khớp cũng xuất hiện ở những bệnh nhân
nam giới cao huyết áp có lạm dụng rượu cũng như ở phụ nữ sau mãn
kinh. Thông thường thì khớp đốt bàn chân – ngón chân của một
ngón chân cái bị ảnh hưởng, nhưng khớp cổ chân, mắt cá, và đầu
gối cũng thường gặp. Ở người già, khớp ngón tay có thể bị viêm.
Các nút Heberden hoặc Bouchard viêm có thể là biểu hiện đầu tiên
của viêm khớp gút. Thời kỳ đầu của viêm khớp gút cấp tính thường
bắt đầu vào ban đêm với đau khớp nặng và sưng khớp. Khớp nhanh
chóng trở nên nóng, đỏ, và mềm, và thường biểu hiện trên lâm
sàng giống viêm mô tế bào. Tổn thương ban đầu có xu hướng tự
giảm sau 3-10 ngày, và hầu hết các bệnh nhân đều không để lại di
chứng tới chu kỳ kế tiếp. Một vài trường hợp có thể làm viêm
khớp gút cấp tới sớm hơn: chế độ ăn kiêng quá nhiều, chấn thương,
phẫu thuật, uống rượu nhiều, hóc-môn hướng vỏ thượng thận
(ACTH), ngưng dùng glucocorticoid, điều trị giảm axít uríc huyết,
các bệnh nặng như nhồi máu cơ tim và đột quỵ. |
| |
| Sau nhiều cơn cấp tính một hoặc một vài khớp, một số bệnh
nhân gút có biểu hiện của viêm màng hoạt dịch mãn tính không đối
xứng, có thể nhầm với viêm khớp dạng thấp. Ít gặp hơn, chỉ có
biểu hiện viêm khớp gút mãn tính, và hiếm gặp hơn nữa, bệnh biểu
hiện với cục lắng đọng quanh khớp có viêm hoặc không viêm và
không có viêm màng hoạt dịch mãn tính. Phụ nữ chiếm từ 5-17%
trong tổng số bệnh nhân gút. Gút sau mãn kinh hiếm gặp và chỉ
chiếm 17% trong tổng số phụ nữ bị gút, chỉ gặp trong các gia
đình có tiền sử bị gút. Vài trăm trường hợp gút sớm gặp ở phụ nữ
trẻ do giảm độ thanh thải urat của thận và suy thận đã được mô
tả. Phụ nữ sau mãn kinh và người già bị viêm khớp gút thì hầu
hết có tăng huyết áp động mạch gây suy thận nhẹ và có điều trị
lợi tiểu. Hầu hết các bệnh nhân này cũng có bệnh thoái hóa khớp
và các cục sạn viêm lắng đọng tại các nút Heberden và Bouchard. |
| |
 |
| |
| CHẨN ĐOÁN CẬN LÂM SÀNG |
| |
|
Dù biểu hiện gút rất rõ trên lâm sàng, chẩn đoán nên được xác
định bằng chọc hút khớp viêm cấp hoặc mãn tính hoặc cục sạn.
Viêm khớp cấp nhiễm trùng, một vài bệnh khớp tinh thể khác, thấp
khớp hồi quy, viêm khớp vảy nến có thể có các đặc điểm lâm sàng
tương tự. Trong các cơn gút cấp, các tinh thể MSU hình kim có
lưỡng chiết quang mạnh với hệ số giãn âm tính có rất nhiều trong
tế bào (Hình 313-1). Đếm tế bào chất lỏng hoạt dịch thấy cao từ
2000 đến 60000/µL. Dịch xuất hiện đục do bạch cầu, và số lượng
lớn tinh thể đôi khi sản sinh ra dịch khớp bột hoặc sền sệt.
Nhiễm khuẩn có thể cùng tồn tại với tinh thể urat trong chất
lỏng hoạt dịch; nếu có bất cứ nghi ngờ khớp nhiễm trùng, phải
cấy dịch khớp. Tinh thể MSU thường thấy đầu tiên ở khớp đốt
xương bàn chân và ở đầu gối không có gút cấp. Chọc khớp trên
những khớp này là một kỹ thuật hữu ích để chẩn đoán giữa các cơn
gút. Nồng độ axít uric huyết tương có thể bình thường hoặc thấp
trong cơn gút cấp, khi nồng độ axít uric giảm do điều trị giảm
axít uric hoặc do dùng thuốc, đã làm giảm giá trị chẩn đoán xác
định bằng nồng độ axít huyết tương. Mặc dù hạn chế như vậy, axít
uric huyết tương luôn luôn cao tại một thời điểm nào đó và có
thể được sử dụng để theo dõi giai đoạn điều trị giảm axít uric.
Một tập hợp kết quả axít uric 24h rất có giá trị trong việc đánh
giá nguy cơ sỏi, trong việc giải thích sự quá sản hoặc giảm tiết
axít uric, và trong quyết định sử dụng phác đồ giảm axít uric
nào. Bài tiết quá 800mg axít uric mỗi 24h trên bệnh nhân ăn
kiêng thường xuyên thì nên nghi ngờ nguyên nhân do quá sản
purine. Nên phân tích nước tiểu, nitơ urê máu, creatinine huyết
tương, đếm tế bào máu trắng (WBC), lipít huyết tương vì khả năng
di chứng bệnh gút và các bệnh phối hợp khác cần điều trị. |
| |
 |
| ĐẶC ĐIỂM X-QUANG |
|
|
| Thay đổi nang, mòn rõ được mô tả như các tổn thương phân hủy
thành lỗ với các đầu xương nhô ra (dấu hiệu Martel hoặc dấu hiệu
G (G viết tắt của Gút), kết hợp với các khối can-xi hóa mô mềm
là các đặc điểm X-quang đặc trưng của gút mãn tính có cục sạn.
Tuy nhiên, các dấu hiệu x-quang tương tự cũng có thể thấy trong
bệnh viêm khớp thể ăn mòn, bệnh khớp phá hủy do Apatít, viêm
khớp dạng thấp. |
| |
| ĐIỀU TRỊ |
|
|
| Viêm khớp dạng gút cấp |
| |
| Điều trị căn bản trong cơn gút cấp là dùng thuốc chống viêm
như colchicine, kháng viêm không steroit (NSAIDs), hoặc
glucocorticoid, tùy thuộc vào độ tuổi và điều kiện bệnh phối
hợp. Cả colchicine và kháng viêm không steroit có thể độc với
người già, đặc biệt khi có suy thận và rối loạn dà dày – ruột. Ở
bệnh nhân cao tuổi, ta có thể dùng tiêm glucocorticoid nội khớp
ở một hoặc hai khớp lớn hoặc dùng túi chườm đá cùng với uống
colchicine liều thấp đối với viêm màng hoạt dịch dạng gút ảnh
hưởng đến khớp nhỏ. Colchicine đường uống là cách dùng truyền
thống và có hiệu quả trong ít nhất 85% bệnh nhân nếu sử dụng sớm
trong cơn cấp tính. Dùng một viên nén (0,6 mg) cho mỗi giờ đến
cho đến khi giảm triệu chứng hoặc xuất hiện nhiễm độc dạ dày –
ruột, hoặc dùng tổng cộng bốn đến tám viên nén theo độ tuổi bệnh
nhân. Phải dừng thuốc ngay khi có dấu hiệu đầu tiên là phân lỏng
và phải điều trị triệu chứng ngay khi tiêu chảy. Colchicine
đường tĩnh mạch đôi khi được sử dụng và có thể giảm bớt, mặc dù
không loại trừ hết, các tác dụng phụ dạ dày – ruột. Colchicine
đường tĩnh mạch chắc chắn được sử dụng dự phòng trước hoặc sau
phẫu thuật với liều 1 tới 2 mg khi mà bệnh nhân không thể dùng
đường uống. Nhiễm độc colchicine có nguy cơ tử vong hoặc đột tử
với liều hơn 4 mg/ngày đường tĩnh mạch. Liều tiêm tĩnh mạch
trong viêm khớp gút cấp tính là 1 đến 2 mg truyền tĩnh mạch chậm
trên 10 phút qua bộ truyền dịch có điều chỉnh, và có thể dùng
thêm hai liều, mỗi liều 1 mg cách nhau 6 giờ, nhưng tổng liều
không bao giờ được vượt quá 4 mg. Kháng viêm không steroit có
hiệu quả trong khoảng 90% bệnh nhân, và các triệu chứng và dấu
hiệu giảm đi sau 5 – 7 ngày. Những thuốc có tác dụng nhất và có
thời gian bán hủy ngắn nhất bao gồm indomethacin, 25 đến 50 mg
tid, ibuprofen, 800 mg tid, hoặc diclofenac, 50 mg tid. Chất ức
chế chọn lọc cao Cyclooxigenase-2 có tác dụng tương tự nhưng ít
nhiễm độc ngắn hạn cho dạ dày – ruột hơn. Thuốc glucocorticoid
đường uống, chẳng hạn như prednisone, liều ban đầu là 30 đến 50
mg/ngày rồi giảm dần trong 5 đến 7 ngày, một liều
methylprednisolone tiêm tĩnh mạch duy nhất 7mg betametasone,
hoặc 20 đến 40 mg triamcinolone acetonide tiêm nội khớp đều cho
hiệu quả tương tự. ACTH tiêm bắp 40 đến 80 IU một liều duy nhất
mỗi 12 giờ trong 1 đến 2 ngày có hiệu quả ở bệnh nhân gút đa
khớp cấp tính dai dẳng có chống chỉ định với colchicine hay
kháng viêm không steroit. |
| |
| Điều trị giảm axít uric huyết tương |
| |
| Cố gắng làm nồng độ axít uric về mức bình thường dưới 300
µmol/L (5.0 mg/dL) để phòng ngừa cơn gút tái phát và loại bỏ sự
lắng đọng cục sạn đòi hỏi phải cam kết thực hiện theo phác đồ
giảm axít uric dài hạn và nói chung là dùng thuốc suốt đời. Cần
xem xét liệu pháp điều trị giảm axít uric khi chứng tăng axít
uric không thể chữa bằng các phương pháp đơn giản (kiểm soát cân
nặng, chế độ ăn ít purine, tăng tiêu thụ chất lỏng, hạn chế uống
rượu, và tránh sử dụng thuốc lợi tiểu). Thông thường thì quyết
định bắt đầu điều trị giảm axít uric khi cân nhắc đến số lượng
các cơn cấp tính, tiền sử gia đình bị gút, sự hiện diện của cục
sạn MSU lắng đọng, bài tiết axít uric quá 800 mg trong 24 giờ,
sự hiện diện của sỏi axít uric và những nguy cơ bệnh thận axít
uric cấp tính trong thời gian hóa trị đối với các rối loạn tăng
sinh tủy xương. Thuốc gây axit uric niệu, chẳng hạn như
probenecid, có thể được sử dụng ở bệnh nhân chức năng thận còn
tốt, những người bài tiết ít axít uric, dưới 600 mg trong 24h
mẫu nước tiểu. Phải duy trì thể tích nước tiểu bằng uống 1500 ml
nước mỗi ngày. Có thể bắt đầu dùng probenecid liều 200 mg hai
lần trong ngày và tăng dần khi cần thiết lên tới 2 g để duy trì
nồng độ axít uric dưới 300 µmol/L (5.0 mg/dL). Thuốc probenecid
được lựa chọn để điều trị bệnh nhân cao tuổi có tăng huyết áp
phụ thuộc thiazide, tuy nhiên, probenecid không có hiệu quả khi
độ thanh thải creatinine niệu dưới 1mL/giây. Những bệnh nhân này
có thể phải cần tới thuốc allopurinol hoặc benzbromarone (không
có sẵn ở Hoa Kỳ), đó là một thuốc gây axit uric niệu khác có tác
dụng trên bệnh nhân suy thận và những người đang điều trị thuốc
lợi tiểu. Allopurinol là thuốc tốt nhất để giảm urat huyết tương
trong quá sản, tạo sỏi và bệnh nhân có suy thận từ trước. Dùng
một liều duy nhất vào buổi sáng, ban đầu liều 300 mg và tăng lên
tới 800 mg nếu cần. Không nhất thiết phải bắt đầu liều thấp ở
hầu hết các bệnh nhân, tuy nhiên, ở những bệnh nhân suy thận,
liều dùng nên được điều chỉnh dựa trên sự cô đặc của creatinine
huyết tương để giảm thiểu tác dụng phụ. Những bệnh nhân thường
xuyên có cơn cấp tính thì cần liều bắt đầu thấp để phòng ngừa
bệnh trầm trọng thêm. Nhiễm độc allopurinol thấy tăng ở những
bệnh nhân suy thận sử dụng thuốc lợi tiểu thiazide, và ở những
bệnh nhân dị ứng với peniciline và ampiciline. Tác dụng phụ
nghiêm trọng nhất bao gồm phát ban trên da tiến triển tới hoại
tử da nhiễm độc có nguy cơ tử vong, viêm mạch toàn thân, suy tủy
xương, viêm gan thể hạt, và suy thận. Thuốc hạ urat không nên sử
dụng trong các cơn cấp tính. Điều này đặc biệt quan trọng ở bệnh
nhân có viêm khớp cấp dai dẳng hoặc những người đã có vấn đề
trước đó với thuốc giảm axít uric. Tiếp tục dự phòng colchicine
liều 0,6 mg một đến hai lần mỗi ngày cùng với điều trị giảm axít
uric cho đến khi bệnh nhân có nồng độ axít uric trở về bình
thường và không có cơn gút cấp trong vòng 3 tháng. Tuy nhiên, dự
phòng bằng colchicine có thể cần thiết chừng nào cục sạn còn tồn
tại. Kết hợp urate-oxidase không tái tổ hợp (uricase) có thể
được sử dụng trong dự phòng ngắn hạn và điều trị tăng axít uric
phối hợp hóa trị ở những bệnh nhân tăng sinh mô bạch huyết và
rối loạn tăng sinh tủy xương |
| |
| BỆNH LẮNG ĐỌNG CPPD |
| |
| Bệnh học |
|
|
| Sự lắng đọng tinh thể CPPD trong mô khớp phổ biến nhất ở
người già, ảnh hưởng từ 10 đến 15% người từ 65 đến 75 tuổi và 30
– 60% người trên 85 tuổi. Trong hầu hết các trường hợp thì quá
trình này không có triệu chứng, và nguyên nhân lắng đọng CPPD
chưa rõ. Bởi vì có hơn 80% bệnh nhân có tuổi trên 60 và 70% có
tổn thương khớp từ trước do bệnh khác, có khả năng là do thay
đổi sinh hóa trong lão hóa sụn thúc đẩy quá trình tạo kết
tinh. Ví dụ về những thay đổi hóa học đó như sau. Có một gia
tăng sản xuất pyrophosphate ngoại lai và giảm nồng độ
pyrophosphatases trong sụn chiết xuất từ bệnh nhân có viêm khớp
CPPD. Tình trạng này, trong đó tăng pyrophosphate ngoại lai và
thúc đẩy hình thành tinh thể CPPD, có thể cũng ngăn cản việc
hình thành hydroxyapatite. Việc tăng sản xuất pyrophosphate
dường như liên quan đến việc tăng cường hoạt động của ATP
pyrophosphohydrolase và 5’-nucleotodase, khi đó nó xúc tác phản
ứng ATP tạo sdenosine và pyrophosphate. Pyrophosphate này có thể
kết hợp với canxi để tạo thành tinh thể CPPD trong túi matrix
hoặc trên sợi collagen. Có giảm nồng độ glycosaminoglycans sụn
mà bình thường ức chế hoặc điều tiết việc kết tinh. Những thiếu
hụt này có thể dẫn đến tăng lắng đọng tinh thể. Nghiên cứu trong
phòng thí nghiệm đã chứng tỏ rằng cả hai yếu tố tăng trưởng là
yếu tố tăng trưởng biến đổi β và yếu tố tăng trưởng biểu bì kích
thích sản sinh ra pyrophosphate của sụn khớp và do đó gây ra
lắng đọng các tinh thể CPPD. Tiếp theo việc giải phóng tinh thể
CPPD vào khớp là việc thực bào các tinh thể này bởi bạch cầu
trung tính, đáp ứng bằng cách giải phóng các chất viêm. Ngoài ra,
bạch cầu trung tính còn giải phóng glycopeptide gây hóa ứng động
các bạch cầu trung tính khác, vì vậy, tăng tình trạng viêm. Chất
tương tự cũng hiện diện trong gút MSU. |
| |
| Một số ít bệnh nhân bệnh khớp CPPD có bất thường về chuyển
hóa hoặc bệnh CPPD di truyền (Bảng 313-2). Sự kết hợp này gây
nghi ngờ rằng một số sản phẩm chuyển hóa khác nhau có thể gây
lắng đọng CPPD. Trong các bệnh thì gồm bốn bệnh “chữ H” là chứng
tăng năng tuyến cận giáp (hyperparathyroidism), bệnh nhiễm sắc
tố sắt mô (hemochromatosis), giảm photphataza (hypophosphatasia),
chứng giảm magne huyết (hypomagnesemia). Bệnh nhiễm sắc tố sắt
mô và chứng tăng năng tuyến cận giáp là những ví dụ điển hình.
Các ion sắt và chứng tăng canxi huyết có thể tác dụng trực tiếp
trên sụn hoặc ức chế pyrophosphatases nội sinh, dẫn đến tăng độ
nhạy trong lắng đọng CPPD. Sự hiện diện viêm khớp CPPD ở người
dưới 50 tuổi thì nên xem xét các rối loạn chuyển hóa này và các
thể bệnh di truyền, bao gồm những bệnh đã xác định ở những nhóm
chủng tộc thiểu số khác nhau (Bảng 313-2). Các nghiên cứu ADN
gen trên năm trăm trường hợp đã chỉ ra vị trí di truyền khuyết
tật trên nhiễm sắc thể 8q ở một trăm trường hợp và trên nhiễm
sắc thể 5p trong bốn trăm trường hợp còn lại thể hiện gen của
ống màng pyrophosphate (ANK gene). Một gen khuyết tật được mô tả
trên chuột gây tăng pyrophosphate trong tế bào và giảm
pyrophosphate ngoài tế bào và thúc đẩy lắng đọng apatít. Biến
đổi được mô tả trên gen ANK ở người trong bốn trăm trường hợp
viêm khớp CPPD có thể tăng pyrophosphate ngoài tế bào và hình
thành tinh thể CPPD (Hình 313-2). Nhận dạng các gen này giúp làm
sáng tỏ về bệnh học của cả hai thể bệnh thuộc gia đình và thể
không đặc thù thường gặp hơn. Nên điều tra tìm những bằng chứng
kết hợp có tính chất gia đình và đánh giá canxi huyết tương,
phốt pho, photphataza kiềm, ma-nhê, ferritin huyết tương, và
transferritin bão hòa. |
| |
 |
| Biểu hiện lâm sàng |
| |
|
Bệnh khớp CPPD có thể biểu hiện không triệu chứng, cấp tính, bán
cấp hoặc mãn tính hoặc gây ra viêm màng hoạt dịch cấp trên khớp
mạn tính. Ban đầu, viêm khớp CPPD cấp được McCarty và cộng sự
gọi là giả gút vì biểu hiện tương tự gút. Các biểu hiện lâm sàng
khác của lắng đọng CPPD bao gồm (1) xuất hiện hoặc tăng viêm
xương khớp thể đặc trưng; (2) xuất hiện bệnh phá hủy nặng mà
chụp X-quang rất giống viêm khớp thần kinh; (3) viêm màng hoạt
dịch quá sản đối xứng, lâm sàng biểu hiện giống viêm khớp dạng
thấp và thường thấy trong các thể gia đình với biểu hiện ban đầu
rất sớm; (4) can-xi hóa dây chằng và đĩa gian đốt làm giới hạn
cử động cột sống, giống viêm cứng khớp đốt sống (còn được thấy
trong các thể di truyền) và (5) hiếm khi hẹp tủy sống (thường
thấy trong người cao tuổi) (Bảng 313-1). |
| |
 |
| |
|
Khớp gối là khớp thường xuyên bị ảnh hưởng nhất trong bệnh khớp
CPPD. Các nơi khác bao gồm cả cổ tay, vai, mắt cá, khuỷu tay, và
bàn tay. Hiếm gặp ở khớp thái dương hàm và dây chằng vòng của
ống tủy sống. Bằng chứng lâm sàng và X-quang cho thấy lắng đọng
CPPD ở đa khớp chiếm đến hai phần ba tổng số bệnh nhân. Khi hình
ảnh lâm sàng giống viêm xương khớp tiến triển chậm thì khó chẩn
đoán hơn. Sự phân bố khớp có thể cung cấp những đầu mối quan
trọng nghi ngờ bệnh CPPD. Ví dụ, viêm xương khớp nguyên phát
hiếm khi gặp ở xương đốt bàn tay – ngón tay, cổ tay, khuỷu tay,
vai hoặc khớp mắt cá. Nếu hình ảnh X-quang thể hiện lắng đọng
tập trung tia từng chấm hay dạng đường thẳng tại sụn chêm khớp
xơ sụn hoặc sụn khớp trong suốt (Chứng vôi hóa sụn khớp), thì
chẩn đoán CPPD chắc chắn thêm. Chẩn đoán xác định đòi hỏi phải
có hiện diện tinh thể điển hình trong chất lỏng hoạt dịch hoặc
mô khớp (Hình 313-3). Nếu không có dịch tiết khớp hoặc chỉ định
tiến hành sinh thiết hoạt dịch, chứng vôi hóa sụn khớp nghi ngờ
do lắng đọng CPPD. Một trường hợp ngoại lệ là chứng vôi hóa sụn
khớp do CaOx ở một số bệnh nhân có suy thận mãn tính. |
| |
| Các cơn viêm khớp CPPD cấp có thể xuất hiện sớm hơn do chấn
thương, soi khớp hay tiêm hyaluronate. Giảm nhanh nồng độ can-xi
huyết tương, có thể xảy ra trong bệnh nặng hoặc sau phẫu thuật (đặc
biệt là phẫu thuật cắt bỏ tuyến cận giáp), có thể dẫn đến các
cơn giả gút. |
| |
|
Trong khoảng 50% các trường hợp, gút CPPD có kèm theo sốt nhẹ và
đôi khi nhiệt độ lên tới 40oC. Cho dù có hoặc không có bằng
chứng X-quang về chứng vôi hóa sụn khớp tại các khớp liên quan,
thì việc phân tích hoạt dịch với cấy vi khuẩn là cần thiết để
loại trừ khả năng nhiễm khuẩn. Trên thực tế, nhiễm trùng khớp
khi có bất cứ quá trình lắng đọng tinh thể nào có thể dẫn đến
rơi tinh thể và viêm màng hoạt dịch xuất hiện sau do cả hai yếu
tố tinh thể và vi sinh. Chất lỏng hoạt dịch trong gút CPPD cấp
có biểu hiện viêm. Đếm tế bào máu trắng (WBC) kết quả từ vài
ngàn tế bào đến 100.000 tế bào/µL, trung bình là 24.000 tế bào/µL
và phần lớn là bạch cầu trung tính. Kính hiển vi phân cực thường
phát hiện ra các tinh thể hình thoi với lưỡng chiết quang dương
tính yếu trong các cục sợi fibrim và trong các bạch cầu trung
tính (Hình 313-3). |
| |
 |
| |
| ĐIỀU TRỊ |
| |
| Những cơn cấp tính không điều trị có thể kéo dài vài ngày
tới một tháng. Điều trị bằng chọc hút khớp và thuốc kháng viêm
không có steroit (NSAID), hoặc colchicine, hoặc tiêm
glucocorticoit nội khớp có thể có hiệu quả làm quay trở lại tình
trạng trước đó trong vòng dưới 10 ngày. Đối với bệnh nhân hay
tái phát cơn CPPD cấp, điều trị dự phòng hàng ngày colchicine
với liều thấp có thể làm giảm tần số xuất hiện cơn tái phát. Các
cơn đa khớp nặng thường cần dùng glucocorticoit ngắn hạn. Thật
không may, không có cách nào để lấy đi các lắng đọng CPPD tại
sụn và màng hoạt dịch. Các nghiên cứu chưa được kiểm chứng đề
xuất rằng cắt bỏ màng hoạt dịch bằng phóng xạ (với yttrium 90)
hoặc dùng thuốc chống sốt rét có hiệu quả kiểm soát viêm màng
hoạt dịch dai dẳng. Bệnh nhân có bệnh phá hủy khớp tiến triển
tại khớp lớn đòi hỏi phải thay khớp. |
| |
| BỆNH LẮNG ĐỌNG CALCIUM HYDROXYAPATITE |
| |
| Bệnh học |
| |
| Hydroapatite (HA) là chất chủ yếu cấu tạo nên xương và răng.
Tích lũy bất thường có thể xảy ra trong mô bị tổn thương (canxi
hóa do loạn dưỡng), trong tăng canxi huyết hoặc tình trạng tăng
năng tuyến cận giáp (canxi hóa do di căn), và trong một số tình
trạng chưa rõ nguyên nhân (Bảng 313-3). Trong suy thận mãn tính,
tăng phốt-phát huyết làm tăng lắng đọng HA cả trong và quanh
khớp. Hiếm gặp tập hợp mang tính gia đình, nhưng cho đến nay
không có kết hợp với biến dị ANK người được trình bày. |
| |
| HA có thể thoát ra từ xương và gây ra viêm màng hoạt dịch
cấp tính đôi khi thấy trong viêm xương khớp mãn tính ổn định (ví
dụ, các nốt Heberden). Lắng đọng HA cũng là một yếu tố quan
trọng trong bệnh khớp phá hủy nặng mãn tính ở người cao tuổi mà
xảy ra thường xuyên nhất ở đầu gối và vai (vai Milwaukee). Phá
hủy khớp cộng với giảm hoặc mất kết cấu đỡ dẫn đến mất ổn định
và biến dạng. Tiến triển bệnh có xu hướng âm thầm, và đếm tế bào
máu trắng WBC trong chất lỏng hoạt dịch thường dưới 2.000 tế
bào/µL. Triệu chứng đau có thể từ nhẹ đến rất nặng và mất chức
năng có thể phải phẫu thuật thay khớp. Một phản ứng của mô màng
hoạt dịch với tinh thể HA thường biểu hiện ở viêm xương khớp thì
không rõ ràng ngay cả khi bệnh nhân có biểu hiện nặng. Cấy mô
màng hoạt dịch tìm tinh thể HA (hoặc CPPD) thấy tăng đáng kể
việc giải phóng colagenaza và proteaza trung tính, tập trung ở
các tế bào lót màng hoạt dịch bị kích thích bất thường có khả
năng phá hủy. |
| |
 |
| |
| Biểu hiện lâm sàng |
| |
| Lắng đọng khớp và quanh khớp có thể cùng tồn tại và kết hợp
với các tổn thương cấp hoặc mãn tính đối với bao khớp, gân, túi
hoạt dịch, và bề mặt khớp. Vị trí HA lắng đọng thường gặp nhất
bao gồm túi và gân trong và quanh đầu gối, vai, hông và ngón
tay. Biểu hiện lâm sàng bao gồm các bất thường X-quang không có
triệu chứng, viêm màng hoạt dịch cấp, viêm túi hoạt dịch, viêm
gân, và bệnh khớp phá hủy mãn tính. Hầu hết các bệnh nhân bệnh
khớp HA là người cao tuổi. Mặc dù không rõ tỷ lệ mắc bệnh viêm
khớp HA, nhưng 30 – 50% bệnh nhân viêm xương khớp có tinh thể HA
trong chất lỏng hoạt dịch. Những tinh thể đó có thể thấy thường
xuyên trong những khớp bị viêm xương khớp mãn tính đã ổn định,
nhưng phải chú ý đến những người đã bị đau khớp và sưng khớp cấp
và bán cấp nặng. Đếm tế bào máu trắng WBC trong chất lỏng hoạt
dịch ở viêm khớp HA thường thấp (<2.000 tế bào/µL) nhưng nhiều
trường hợp tới 50.000 tế bào/µL. Hầu hết các phân tích chất lỏng
hoạt dịch đều thể hiện tập trung nhiều số lượng bạch cầu đơn
nhân. Đôi khi, bạch cầu trung tính chiếm ưu thế. |
| |
| Chẩn đoán |
| |
| Không thể chẩn đoán bệnh khớp HA bằng chụp X-quang. Có thể
thấy can-xi hóa trong và quanh khớp có kèm hoặc không kèm theo
các biến đổi dạng mòn, phá hủy hay phì đại. |
| |
| Chẩn đoán xác định bệnh khớp HA dựa vào sự hiện diện của
tinh thể trong chất lỏng hoạt dịch hoặc trong mô (Hình 313-4).
Các tinh thể thì rất nhỏ, không lưỡng chiết quang, và có thể
nhìn thấy bằng kính hiển vi điện tử. Các bó tinh thể biểu hiện
như những hạt sáng từ 1 – 20 µm trong hoặc ngoài tế bào có màu
đỏ tía khi nhuộm bằng thuốc nhuộm Wright và có màu đỏ sáng khi
nhuộm bằng alizarin red S. Chẩn đoán xác định tuyệt đối thì phụ
thuộc vào kính hiển vi điện tử kèm theo phân tích nguyên tố phân
tán năng lượng, nhiễu xạ tia X, hoặc kính hiển vi hồng ngoại. |
| |
 |
| |
| ĐIỀU TRỊ |
| |
| Điều trị viêm khớp HA là không đặc hiệu. Các cơn cấp của
viêm túi hoạt dịch hoặc viêm màng hoạt dịch có thể tự giảm trong
vòng một vài ngày đến vài tuần. Hút dịch tiết và việc sử dụng
chất chất kháng viêm không steroit hoặc uống colchicine trong 2
tuần hoặc tiêm muối glucocorticoit nội khớp hoặc quanh khớp có
thể rút ngắn thời gian và mức độ của các triệu chứng. Trong các
bệnh nhân có biến dạng khớp phá hủy nặng thì đáp ứng đối với
điều trị không đáng kể. |
| |
| BỆNH LẮNG ĐỌNG CaOx |
| |
| Bệnh học |
| |
| Loạn chuyển hóa oxalat nguyên phát là bệnh rối loạn chuyển
hóa di truyền hiếm gặp. Sản xuất axit oxalic có thể do khiếm
khuyết ít nhất là từ hai men khác nhau, dẫn đến tăng oxalat
huyết và lắng đọng các tinh thể calci oxalat trong mô. Chứng
nhiễm calci thận, suy thận, và tử vong xảy ra trước tuổi 20.
Viêm khớp và viêm quanh khớp cấp và/hoặc mãn tính CaOx có thể là
biến chứng từ loạn chuyển hóa oxalat từ những năm bệnh tật trước
đó. |
| |
|
Loạn chuyển hóa oxalat thứ phát thường gặp hơn nguyên phát. Nó
là một trong những rối loạn chuyển hóa thường gặp gây biến chứng
bệnh thận giai đoạn cuối (end-stage renal disease – ESRD). Trong
bệnh thận giai đoạn cuối, lắng đọng calci oxalat đã được phát
hiện từ lâu ở các cơ quan nội tạng, mạch máu, xương và thậm chí
ở sụn. Tuy nhiên, phải tới năm 1982 mới chứng minh được sự lắng
đọng đó là một trong những nguyên nhân gây viêm khớp trong suy
thận mãn tính. Cho đến nay, các bệnh nhân đã được báo cáo là phụ
thuộc vào sự thẩm tách máu (lọc máu) kéo dài hoặc thẩm tách màng
bụng (lọc màng bụng) và rất nhiều bệnh nhân đã dùng axit
ascorbic bổ xung. Axit ascorbic được chuyển hóa thành oxalat,
không trong sạch hoàn toàn trong urê huyết và trong thẩm tách.
Ngày nay, những bổ xung đó thường được tránh trong chương trình
thẩm tách vì có nguy cơ tăng oxalat huyết và các di chứng của
nó. |
|
|
|
Biểu hiện lâm sàng và chẩn đoán |
|
|
|
Như lưu ý cho các muối calci khác, khối CaOx có thể tìm thấy
trong xương, sụn khớp, màng hoạt dịch, và mô quanh khớp. Từ
những vị trí này, các tinh thể có thể rơi rụng, gây viêm màng
hoạt dịch cấp tính. Giống như HA và CPPD, các khối CaOx thường
trực có thể kích thích tăng sản hoạt dịch và giải phóng các men,
dẫn đến tiến triển phá hủy khớp. Sự lắng đọng đã được ghi nhận ở
ngón tay, cổ tay, khuỷu tay, đầu gối, mắt cá, và bàn chân. |
|
|
|
Mỗi một thể bệnh khớp tinh thể có thể là biến chứng của bệnh
thận giai đoạn cuối, và hiếm khi có bệnh nhân có nhiều hơn một
loại tinh thể trong dịch tiết. Kỹ thuật tinh thể học đã chứng
minh rõ ràng là hầu hết các vấn đề viêm khớp trong bệnh thận
giai đoạn cuối không phải là do gút MSU mà trước đây mọi người
vẫn tưởng vậy. Đặc tính lâm sàng của viêm khớp CaOx cấp có thể
không phân biệt được với các triệu chứng của natri urat, CPPD
hay HA. Chụp X-quang có thể thấy vôi hóa sụn khớp, một đặc trưng
của lắng đọng CPPD hoặc CaOx. Dịch tiết hoạt dịch chứa CaOx
thường không viêm, với số lượng tế bào bạch cầu <2.000/µL. Bạch
cầu trung tính hoặc bạch cầu đơn nhân chiếm đa số. Tinh thể CaOx
có nhiều hình dạng khác nhau và có lưỡng chiết quang thay đổi
theo ánh sáng phân cực. Hình dạng dễ nhận thấy nhất ở dạng hình
chóp đôi, có lưỡng chiết quang dương tính mạnh (Hình 313-5). |
|
|
 |
|
|
|
ĐIỀU TRỊ |
|
|
|
Điều trị bệnh khớp CaOx bằng thuốc kháng viêm không steroit,
cochicine, glucocorticoit nội khớp, và/hoặc kèm theo tăng tần số
thẩm tách có hiệu quả chút ít. Trong loạn chuyển hóa oxalat
nguyên phát, ghép gan có tác dụng giảm đáng kể lắng đọng tinh
thể. |
|
|
|
Dịch từ nguyên bản Gout and other crystals
arthropathies, Antonio J. Reginato, Harrison’s Principle of
Internal Medicine, 16th Edition bởi
healthconsul@gmail.com
tại www.dulichchuabenh.vn
|
|
|
| (Tải xuống bản pdf đầy đủ>>>) |
| |
® Ghi
rõ nguồn "dulichchuabenh.vn" khi phát hành lại thông tin từ website
này dưới mọi hình thức. |
|