|
Khái niệm sinh sản chọn lọc hiện nay đã ăn sâu ở các nước
phát triển và làm thay đổi đáng kể các hành vi sinh sản. Các
phương pháp tránh thai phòng ngừa rất hiệu quả việc mang thai
ngoài ý muốn và có tác dụng quan trọng về mặt kinh tế và xã
hội. Hiếm muộn, trái lại, có thể gây căng thẳng và thất vọng
trầm trọng. May mắn là khả năng chẩn đoán và điều trị các
nguyên nhân hiếm muộn hiện nay cung cấp một phương pháp tiếp cận
mới có hiệu quả đối với tình trạng này.
HIẾM MUỘN
ĐỊNH NGHĨA VÀ SỰ PHỔ BIẾN
Hiếm muộn được định nghĩa là không có khả năng thụ thai sau
12 tháng quan hệ tình dục mà không áp dụng biện pháp ngừa thai.
Trong một nghiên cứu trên 5574 phụ nữ Anh và Mỹ có thai, thì 50%
có thai trong vòng 3 tháng, 72% trong vòng 6 tháng, và 85% có
thai trong vòng 12 tháng. Kết quả này phù hợp với dự đoán dựa
trên khả năng thụ thai, tức là xác suất có thai trong một chu kỳ
kinh nguyệt (khoảng 20 – 25% trong các cặp vợ chồng trẻ khỏe
mạnh). Nếu khả năng thụ thai là 0.25, thì 98% các cặp vợ chồng
sẽ có thai trong vòng 13 tháng. Căn cứ vào định nghĩa này,
khảo sát tăng trưởng gia đình toàn quốc báo cáo tỷ lệ hiếm
muộn là 14% tại Hoa Kỳ trên phụ nữ đã lập gia đình ở độ tuổi
từ 15 đến 44. Tỷ lệ hiếm muộn tương đối ổn định trong hơn 30
năm qua, mặc dù tỷ lệ các cặp vợ chồng không con đã tăng, phản
ánh một xu hướng chậm có con. Xu hướng này có tác động quan
trọng bởi vì khả năng thụ thai giảm theo tuổi, bắt đầu từ
tuổi 35, và trầm trọng sau 40 tuổi.
NGUYÊN NHÂN HIẾM MUỘN
Sự phân bố hiếm muộn xếp loại từ giảm tỷ lệ thụ thai hoặc
cần can thiệp y khoa cho tới nguyên nhân hiếm muộn không chữa
được (vô sinh). Hiếm muộn do nguyên nhân phía nam giới chiếm 25%,
do nữ giới chiếm 58%, và 17% các cặp là không rõ nguyên nhân (Hình
45-1). Không có gì là bất thường khi hiếm muộn xảy ra do cả nam
và nữ.

TIẾP CẬN BỆNH NHÂN
Đánh giá ban đầu Trong tất cả các cặp vợ
chồng hiếm muộn, đánh giá ban đầu bao gồm các cuộc thảo luận
về thời điểm thích hợp nhất để quan hệ và các yếu tố nguy cơ
có thể thay đổi chẳng hạn như hút thuốc, rượu, cà phê và béo
phì. Có thể cần thiết mô tả phạm vi tìm hiểu và nên xem xét
các lựa chọn điều trị hiếm muộn, bao gồm cả việc nhận con
nuôi. Những tìm hiểu ban đầu tập trung vào việc xác định hiếm
muộn do phía nam, nữ hoặc cả hai bên. Những tìm hiểu này bao
gồm phân tích tinh dịch ở nam giới, xác nhận rụng trứng ở nữ
giới, và trong phần lớn các trường hợp, là chứng minh vòi
trứng thông ở phụ nữ. Mặc dù thường xuyên được sử dụng trong
quá khứ, những nghiên cứu gần đây đã không chứng minh được hiệu
quả xét nghiệm tương tác tinh dịch sau giao hợp với màng nhầy
cổ tử cung như là một phần của xét nghiệm ban đầu thường làm.
Các chiến lược đánh giá thêm được mô tả sau đây và ở các
chương sau. Trong một số trường hợp sau khi đánh giá chuyên sâu
loại trừ được các nguyên nhân hiếm muộn do nam hoặc nữ, các
rối loạn được phân loại là không rõ nguyên nhân.
Khía cạnh tâm lý của hiếm muộn Hiếm
muộn luôn luôn có kèm theo căng thẳng tâm lý. Ngoài những thủ
tục chẩn đoán và điều trị, căng thẳng có thể là kết quả của
những chu kỳ hy vọng rồi thất vọng kèm theo từng quy trình mới
hoặc chu kỳ điều trị mà không có kết quả là sự ra đời của
một đứa trẻ. Những cảm xúc này thường kèm theo một cảm giác
bỏ rơi từ gia đình và bạn bè. Nên tư vấn và sử dụng kỹ thuật
kiểm soát căng thẳng từ giai đoạn đánh giá hiếm muộn ban đầu.
Nếu cực đoan, căng thẳng có thể ảnh hưởng đến hiếm muộn;
chẳng hạn, căng thẳng làm giảm kiểm soát rụng trứng ở vùng
dưới đồi. Hiếm muộn và điều trị hiếm muộn không liên đới tới
di chứng tâm lý kéo dài.
Những nguyên nhân ở phụ nữ Rối loạn chức
năng kinh nguyệt là nguyên nhân phổ biến gây hiếm muộn ở phụ nữ.
Những rối loạn này bao gồm, rối loạn chức năng rụng trứng,
hoặc những bất thường của tử cung và ống dẫn, có thể biểu
hiện là vô kinh (mất kinh) hoặc các chu kỳ kinh ngắn hoặc bất
thường. Khám lâm sàng và hỏi tiền sử bệnh kỹ và làm một số
xét nghiệm sẽ xác định được bất thường này do (1) vùng dưới
đồi hoặc tuyến yên [hóc môn kích thích nang trứng (FSH), hóc môn
tạo hoàng thể (LH), hóc môn sinh dục estradiol, có kèm theo hoặc
không kèm theo tăng prolactin], (2) hội chứng buồng trứng đa nang (PCOS;
chu kỳ kinh bất thường và chứng tăng tiết androgen mà không do
các nguyên nhân tăng androgen khác, (3) buồng trứng (estradiol cao
đồng thời FSH tăng); hoặc (4) tử cung hoặc bất thường ở ống dẫn. Tỷ lệ
chẩn đoán phụ thuộc vào việc vô kinh nguyên phát hay vô kinh sau dậy thì
bình thường và bắt đầu có kinh (Hình 45-1)
RỐI LOẠN CHỨC NĂNG RỤNG TRỨNG
Ở phụ nữ có tiền sử chu kỳ kinh nguyệt đều, có thể thấy dấu hiệu rụng
trứng bằng bộ dự đoán ngày rụng trứng (OPKs) (thể hiện bằng việc
gonadotropin tăng cao trước khi trứng rụng, nhưng không chắc chắn là
rụng trứng), bằng biểu đồ nhiệt độ cơ thể, hoặc nồng độ progesterone ở
giai đoạn giữa hoàng thể. Progesterone tăng cao ở giai đoạn giữa hoàng
thể (thường >3ng/mL) xác nhận việc rụng trứng và chức năng của hoàng thể
và gây tăng nhiệt độ cơ thể [>0.3oC (>0.6 oF trong 10 ngày)]. Việc sinh
thiết nội mạc tử cung để loại trừ suy giai đoạn hoàng thể không còn là
được coi là một việc cơ bản phải làm trong hiếm muộn ở hầu hết các bệnh
nhân. Ngay cả khi có chu kỳ rụng trứng hiện diện, nên tiến hành đánh giá
dự trữ buồng trứng cho tất cả phụ nữ trên tuổi 35 bằng cách đo
nồng độ FSH vào ngày thứ 3 của chu kỳ hoặc phản ứng với clomiphene, một
chất đối kháng với estrogen (xem dưới đây). Nồng độ FSH dưới 10IU/mL vào
ngày thứ 3 của chu kỳ cho biết dự trữ nang noãn đầy đủ. Inhibin B, một
hóc-môn buồng trứng ức chế chọn lọc FSH, không có lợi ích gì thêm trong
việc đánh giá dự trữ buồng trứng.
BỆNH VÒI TRỨNG
Bệnh vòi trứng có thể do bệnh viêm vùng chậu, viêm ruột thừa, bệnh
lạc nội mạc tử cung, dính vùng chậu, phẫu thuật vòi trứng, sử dụng vòng
tránh thai (dụng cụ đặt trong tử cung) trước đó. Tuy nhiên, đến 50%
trong tổng số ca hiếm muộn do vòi trứng không xác định được nguyên nhân.
Do bệnh vòi trứng là nguyên nhân phổ biến nhất do đó nên tiến hành chụp
cản quang tử cung vòi trứng (hysterosalpingogram - HSG) hoặc soi ổ bụng
(laparoscopy) ở phần lớn những cặp vợ chồng hiếm muộn. Nhiễm khuẩn hạ
lâm sàng do Chlamydia trachomatis có thể là nguyên nhân hiếm muộn do vòi
trứng và cần phải điều trị cả hai vợ chồng.
BỆNH LẠC NỘI MẠC TỬ CUNG
Bệnh lạc nội mạc tử cung được định nghĩa là có sự hiện diện của các
tuyến và bề mặt nội mạc tử cung bên ngoài khoang tử cung và cơ tử cung.
Nghĩ tới lạc nội mác tử cung khi có tiền sử giao hợp đau, đau kinh nặng
thường xảy ra trước khi có kinh, hoặc khi khám vùng chậu thì có dày vách
trực tràng âm đạo hoặc lệch cổ tử cung. Chưa rõ cơ chế bệnh sinh của
hiếm muộn phối hợp với lạc nội mạc tử cung nhưng có thể do hiệu ứng
cytokine cững như hiệu ứnh dính. Lạc nội mạc tử cung thường không có
biểu hiện lâm sàng thuy nhiên chỉ có thể chẩn đoán loại trừ bằng soi ổ
bụng.
Những nguyên nhân ở nam giới Những nguyên
nhân hiếm muộn đã biết ở nam giới bao gồm rối loạn chức năng tinh hoàn
nguyên phát, rối loạn vận chuyển tinh trùng, và bệnh dưới đồi – tuyến
yên gây ra chứng giảm năng tuyến sinh dục (hypogonadism). Tuy nhiên, gần
một nửa hiếm muộn ở nam giới là không rõ nguyên nhân (Hình 45-1). Xét
nghiệm chẩn đoán cơ bản ban đầu là phân tích tinh dịch. Mặc dù có
thể sử dụng giới hạn tin cậy 95% để xác định các thông số tinh dịch bình
thường, các dữ liệu về đếm tinh trùng có hiệu quả. Các nghiên cứu đã cho
thấy thụ tinh bình thường khi kết quả đếm tinh trùng >48 triệu/mL, với
>63% chuyển động, và có hình thái học bình thường >12%, trong khi hiếm
muộn nhẹ có kết quả đếm tinh trùng <13 triệu/mL, chuyển động <32% và <9%
có hình thái bình thường. Sự sinh tinh bất thường có thể có yếu tố di
truyền. Mất đoạn trên nhiễm sắc thể Y và đột biến POLG tăng là nguyên
nhân gây ra chứng vô tinh trùng (không có tinh trùng) hoặc
chứng thiếu tinh trùng (đếm tinh trùng ít). Mất đoạn trên nhiễm sắc
thể Y còn được thấy ở nhóm nam giới có nồng độ FSH cao và hiếm muộn tự
phát. Nên đo nồng độ testosterone nếu nhiều lần có kết quả đếm tinh
trùng thấp hoặc nếu có biểu hiện chứng giảm năng tuyến sinh dục (hypogonadism)
trên lâm sàng. Nồng độ testosterone thấp có thể do suy giảm tuyến
sinh dục nguyên phát; trong bệnh này, nồng độ LH và FSH sẽ tăng. Ít
gặp hơn, nồng độ testosterone thấp và giảm sinh tinh do bệnh dưới đồi
hoặc tuyến yên, trong trường hợp này, nồng độ LH và FSH sẽ thấp.
Các rối loạn tinh hoàn mắc phải thường kèm theo giảm sinh tinh với
chức năng tế bào Leydig dự trữ vừa phải, mặc dù nồng độ testosterone có
thể bình thường. Những bất thường đó bao gồm viêm tinh hoàn do vi rút (đặc
biệt là quai bị) và các nguyên nhân nhiễm khuẩn khác chẳng hạn bệnh lao
hoặc các bệnh nhiễm trùng qua đường tình dục (STD), hóa trị liệu (đặc
biệt các chất alkyl như cyclophosphamide và chlorambucil), chiếu xạ ion,
và các thuốc mà có thể gây giảm thụ tinh trực tiếp hoặc thông qua sự ức
chế sản xuất hoặc ức chế tác dụng của androgen tinh hoàn. Nên xem xét
việc lạm dụng androgen đồng hóa trên người bị nam hóa có gonadotropin và
testosterone thấp nhưng kết quả đếm tinh trùng bị che lấp. Nhiệt độ tinh
hoàn tăng kéo dài có thể làm giảm sinh tinh, ví dụ như, chứng tinh hoàn
ẩn, sau bệnh sốt cấp tính, hoặc có kèm theo giãn tĩnh mạch thừng tinh.
Nguyên nhân do nhiễm độc môi trường gây giảm sinh tinh cũng đã được đề
cập đến dựa trên kết quả đếm tinh trùng giảm rõ ràng qua nhiều thập kỷ
qua nhưng không chứng minh được mối quan hệ nhân-quả trực tiếp.
GIẢM NĂNG TUYẾN SINH DỤC THỨ PHÁT
Nồng độ gonadotropin thấp, kèm theo testosterone thấp có thể là dấu
hiệu của u phì đại tuyến yên hoặc khối u dưới đồi (trong cả hai trường
hợp nồng độ prolactin có thể cao), hoặc có thể là biểu hiện đầu tiên của
bệnh nhiễm sắc tố sắt mô hoặc bệnh hệ thống khác. Các nghiên cứu gần đây
đã xác định được nguyên nhân gây ra thiếu hụt hóc-môn (GnRH) giải phóng
gonadotropin (KAL và DAX-1), cũng như các đột biến dẫn đến thiết hụt
gonadotropin đơn độc (thụ thể GnRH, đột biến LHβ, FSHβ).
RỐI LOẠN VẬN CHUYỂN TINH TRÙNG
Bệnh nhân có kết quả đếm tinh trùng thấp và nồng độ hóc-môn bình
thường có thể có tắc nghẽn bất thường của ống dẫn tinh hoặc mào tinh
hoàn. Nguyên nhân tắc nghẽn ống dẫn tinh thường gặp nhất là do phẫu
thuật cắt ống dẫn tinh trước đây hoặc vô tình thắt trong giải phẫu bẹn.
Không có ống dẫn tinh bẩm sinh có thể được chẩn đoán bằng việc thiết hụt
fructoza khi xuất tinh và thường kèm theo bất thường của gen (CFTR) điều
hòa xuyên màng xơ nang. Hội chứng ở người trẻ có dịch tiết cô đặc cũng
có thể cản trở vận chuyển tinh trùng bình thường.
ĐIỀU TRỊ
Việc điều trị hiếm muộn cần phải phù hợp với những vấn đề riêng cho
mỗi cặp vợ chồng. Trong nhiều trường hợp, bao gồm cả hiếm muộn không rõ
nguyên nhân, lạc nội mạc tử cung từ nhẹ đến trung bình, và/hoặc có kết
quả tinh dịch ở mức giới hạn, tối ưu là tiến hành bước tiếp theo để tiếp
cận hiếm muộn, bắt đầu bằng các can thiệp có rủi ro thấp rồi tiếp tục
với các can thiệp có nguy cơ cao và rộng hơn. Sau khi xác định mọi yếu
tố hiếm muộn và chỉnh sửa, phương pháp tiếp cận này có thể theo mức độ
phức tạp tăng dần, bao gồm: (1) Quản lý theo dõi, (2) clomiphene citrate
(xem dưới đây) có kèm theo hoặc không có bơm tinh trùng vào buồng tử
cung (IUI), (3) gonadotropin có kèm theo hoặc không có bơm IUI, và (4)
thụ tinh trong ống nghiệm (IVF). Thời gian sử dụng để hoàn thành việc
đánh giá, chỉnh sửa việc theo dõi quản lý có thể lâu hơn ở phụ nữ dưới
tuổi 30, nhưng quá trình này phải thật nhanh ở phụ nữ trên tuổi 35.
Trong một vài trường hợp, quản lý theo dõi không phải là phương pháp phù
hợp.
Rối loạn chức năng rụng trứng Điều trị rối
loạn chức năng rụng trứng trước hết phải hướng đến nguyên nhân của các
rối loạn cho phép điều trị đặc hiệu khi có thể. Chủ vận Dopamine, chẳng
hạn, có thể được chỉ định trong các bệnh nhân có chứng cao prolactin
huyết (hyperprolactinemia); thay đổi lối sống có thể có kết quả ở phụ nữ
nhẹ cân hoặc có tiền sử tập thể dục quá sức.
Các thuốc được sử dụng để kích thích rụng trứng bao gồm clomiphene
citrate, gonadotropins, và giả GnRH. Clomiphene citrate là một
estrogen chủ vận không phải steroid làm tăng nồng độ FSH và LH bằng cách
chẹn đáp ứng âm tính của estrogen tại vùng dưới đồi. Hiệu quả của
clomiphene trong kích thích rụng trứng phụ thuộc rất nhiều vào việc lựa
chọn bệnh nhân. Kích thích buồng trứng sử dụng trong 70-80% phụ nữ có
buồng trứng đa nang (PCOS) và là lựa chọn điều trị ban đầu cho những
bệnh nhân này, đặc biệt là dùng phối hợp với chất nhạy cảm với insulin,
chẳng hạn như metformin. Clomiphene citrate ít có hiệu quả ở những bệnh
nhân có giảm năng tuyến sinh dục (hypogonadotropic hypogonadism).
Gonadotropin có hiệu quả cao trong kích thích rụng trứng ở phụ
nữ có suy giảm chức năng sinh dục (hypogonadotropic hypogonadism) và
buồng trứng đa nang (PCOS) và được sử dụng kích thích sự phục hồi đa
nang trên hiếm muộn không rõ nguyên nhân và trên phụ nữ cao tuổi trong
độ tuổi sinh sản. Điểm bất lợi bao gồm nguy cơ lớn gây đa thai và nguy
cơ quá kích buồng trứng (ovarian hyperstimulation), nhưng nếu theo dõi
chặt chẽ và thận trọng thì sẽ giảm bớt các nguy cơ này. Các gonadotropin
có sẵn hiện nay bao gồm chất pha chế LH và FSH từ nước tiểu, FSH tinh
khiết, và FSH tổ hợp. Mặc dù thành phần chính là FSH, việc bổ xung một
số LH (hoặc human chorionic gonadotropin) có thể cải thiện kết quả, đặc
biệt trên bệnh nhân hypogonadotropic.
Giả GnRH có hiệu quả cao trong khôi phục lại việc rụng trứng ở
những bệnh nhân vô kinh do nguyên nhân dưới đồi nhưng không được sử dụng
rộng rãi ở Hoa Kỳ. Tỷ lệ có thai tương tự như khi sử dụng gonadotropin,
nhưng tỷ lệ đa thai thấp hơn và hầu như không có nguy cơ quá kích buồng
trứng (ovarian hyperstimulation).
Không có một cách nào nói trên có hiệu quả đối với phụ nữ suy buồng
trứng sớm trong trường hợp này hiến tặng noãn hoặc con nuôi là các
phương pháp được lựa chọn.
Bệnh vòi trứng Nếu chụp cản quang tử cung
vòi trứng gợi ý một bất thường tại khoang tử cung hoặc vòi trứng hoặc
nếu bệnh nhân trên 35 tuổi khi tiến hành đánh giá ban đầu, nên soi ổ
bụng kèm theo bơm vòi trứng thường kèm theo soi tử cung (hysteroscopy).
Mặc dù có thể tái tạo vòi trứng nếu chẩn đoán xác định bệnh vòi trứng,
nhưng thường thay thế bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo vì những bệnh
nhân này có nguy cơ cao thai ngoài tử cung.
Lạc nội mạc tử cung Mặc dù 60% phụ nữ có lạc
nội mạc tử cung rất nhỏ hoặc nhẹ có thể thụ thai trong vòng 1 năm mà
không cần điều trị. Cắt bỏ hoặc cắt dưới soi ổ bụng có thể cải thiện tỷ
lệ thụ thai. Điều trị y khoa giai đoạn nặng lạc nội mạc tử cung được sử
dụng rộng rãi để chữa triệu chứng nhưng không thấy tăng khả năng thụ
thai. Trong lạc nội mạc tử cung trung bình đến nặng, phẫu thuật bảo tồn
cho tỷ lệ thụ thai tương ứng là 50% và 39%, so với tỷ lệ chỉ quản lý
theo dõi là 25 và 5%. Ở một số bệnh nhân, thụ tinh trong ống nghiệm (IVF)
có thể là lựa chọn điều trị.
Hiếm muộn nam giới Những lựa chọn điều trị
hiếm muộn nam giới đã phát triển mạnh trong những năm gần đây. Giảm năng
tuyến sinh dục thứ phát phải điều trị với giả GnRH hoặc gonadotropin. Kỹ
thuật trong ống nghiệm đã tạo cơ hội mới cho bệnh nhân suy tinh hoàn
nguyên phát hoặc các rối loạn vận chuyển tinh trùng. Lựa chọn phương
pháp điều trị ban đầu phụ thuộc vào độ tập trung và chuyển động của tinh
trùng. Nên bắt đầu quản lý theo dõi đối với bệnh nhân nam hiếm muộn nhẹ
(kết quả đếm tinh trùng từ 15 đến 20 x 106 mL và chuyển động bình thường).
Hiếm muộn trung bình (kết quả đếm tinh trùng từ 10 đến 15 x 106 mL và 20
đến 40% chuyển động bình thường) nên bắt đầu điều trị bằng bơm tinh
trùng vào buồng tử cung (IUI) hoặc kết hợp với điều trị người vợ bằng
clomiphene hoặc gonadotropin, nhưng cũng có thể cần tới thụ tinh trong
ống nghiệm (IVF) có kèm theo hoặc không kèm theo tiêm tinh trùng vào
bào tương trứng (ICSI). Đối với nam giới thiếu hụt nặng (kết quả đếm
tinh trùng dưới 10 x 106 mL và 10% chuyển động), nên sử dụng thụ tinh
trong ống nghiệm (IVF) có kèm theo tiêm tinh trùng vào bào tương
trứng (ICSI) hoặc hiến tặng tinh trùng.
Các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản Sự phát triển
của kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (Assisted Reproductive Technologies – ART)
đã thay đổi đáng kể trong điều trị hiếm muộn ở nam và nữ. Thụ tinh
trong ống nghiệm (IVF) được chỉ định cho những bệnh nhân hiếm muộn do
rất nhiều nguyên nhân gây ra mà không thành công với các phương pháp
khác thận trọng hơn. Thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) hoặc tiêm tinh
trùng vào bào tương trứng (ICSI) thường điều trị cặp vợ chồng có
nguyên nhân chủ yếu do chồng hoặc do bệnh vòi trứng, trong khi thụ tinh
trong ống nghiệm (IVF) với noãn hiến tặng được sử dụng ở những bệnh
nhân suy buồng trứng sớm hoặc phụ nữ cao tuổi ở độ tuổi sinh sản. Tỷ lệ
thành công phụ thuộc vào tuổi người phụ nữ và nguyên nhân gây hiếm muộn
và nói chung từ 18% đến 24% trên một chu kỳ nếu phụ nữ dưới 40 tuổi khi
bắt đầu điều trị. Ở phụ nữ trên 40 tuổi, có sự giảm đáng kể cả số lượng
noãn nhận được và khả năng thụ thai. Mặc dù có hiệu quả, thụ tinh trong
ống nghiệm (IVF) là tốn kém và đòi hỏi theo dõi chặt chẽ kích thích
rụng trứng và các kỹ thuật xấm lấn, bao gồm cả chọc hút đa nang. Thụ
tinh trong ống nghiệm (IVF) kèm theo nguy cơ đa thai đáng kể (31% sinh
đôi, 6% sinh ba và 0.2% sinh nhiều hơn ba).
NGỪA THAI
Mặc dù có rất nhiều các phương pháp ngừa thai được sử dụng rộng rãi
nhưng khoảng 30% trẻ sinh ra ở Hoa Kỳ là kết quả của việc mang thai
ngoài ý muốn. Có thai tuổi vị thành niên tiếp tục và vấn đề y tế công
cộng nghiêm trọng ở Hoa Kỳ với hơn 1 triệu mang thai ngoài ý muốn mỗi
năm, một tỷ lệ cao hơn rất nhiều so với các nước công nghiệp khác.
Phương pháp ngừa thai được sử dụng rộng rãi (Bảng 45-1). Chỉ 15% các
cặp có quan hệ tình dục không được bảo vệ trong 3 tháng trước đó. Hình
thức ngừa thai có thể hủy ngang được hơn 50% các cặp sử dụng. Triệt sản
(ở nam hay ở nữ) được dùng như là hình thức ngừa thai vĩnh viễn chiếm
hơn 1 phần 3 các cặp. Nạo thai tương đối an toàn khi được các chuyên gia
chăm sóc sức khỏe chỉ dẫn nhưng hiếm khi là lựa chọn tối ưu.
Không có phương pháp ngừa thai nào là lý tưởng, mặc dù tất cả được an
toàn hơn mang thai đến hạn.
Hiệu quả của một phương pháp ngừa thai phụ thuộc vào tính hiệu quả
của bản thân từng phương pháp, sự tuân thủ, và sự tiện lợi. Hiểu biết về
những thuận lợi, khó khăn của mỗi phương pháp ngừa thai là điều cần
thiết trong việc tư vấn cho mỗi một cá nhân về phương pháp an toàn nhất
và phù hợp nhất với lối sống của họ. Khác biệt giữa lý thuyết và hiệu
quả thực tế nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo dục bệnh nhân và sự tuân
thủ khi xem xét các hình thức ngừa thai khác nhau (Bảng 45-1).

PHƯƠNG PHÁP RÀO CẢN
Phương pháp rào cản (như bao cao su, màng ngăn, mũ cổ tử cung) và
thuốc diệt tinh trùng dễ dàng sử dụng, có thể hủy ngang, và có ít tác
dụng phụ hơn phương pháp hóc-môn. Tuy nhiên, hiệu quả phụ thuộc rất
nhiều vào việc tuân thủ và sử dụng đúng cách (Bảng 45-1). Một lợi thế
rất lớn của phương pháp rào cản là chống lại bệnh lây truyền qua đường
tình dục (STDs). Sử dụng thường xuyên làm giảm nguy cơ mắc bệnh lậu,
nhiễm trùng niệu không do lậu, và herpes sinh dục, có thể một phần do
tác dụng của thuốc diệt tinh trùng. Sử dụng bao cao su còn giảm lây
nhiễm HIV. Bao cao su dùng cho nữ giới có hiệu quả rất cao cũng chống
lại các bệnh lại bệnh lây truyền qua đường tình dục được phép dùng từ
1994 nhưng đến nay chưa được sử dụng rộng rãi.
TRIỆT SẢN
Triệt sản là phương pháp ngừa thai được lựa chọn thường xuyên nhất ở
nam và nữ trên 30 tuổi sanh đẻ nhiều (Bảng 45-1). Triệt sản ngăn thụ
thai bằng cách thắt vòi trứng (vòi Fallope) ở phụ nữ và ống dẫn tinh ở
nam giới. Mặc dù thắt vòi trứng và ống dẫn tinh có thể tái tạo, triệt
sản được coi là vĩnh viễn và không nên tiến hành mà không có tư vấn kỹ
càng cho bệnh nhân.
Có rất nhiều phương pháp thắt ống dẫn trứng, tất cả đều có hiệu quả
cao với tỷ lệ mang thai trong vòng 10 năm sau thắt là 1,85 trên 100 phụ
nữ. Tuy nhiên, khi có thai, tỷ lệ thai ngoài tử cung là rất cao tới 30%.
Ngoài tác dụng ngừa thai, thắt ống dẫn trứng còn làm giảm nguy cơ ung
thư buồng trứng, có thể do hạn chế tăng các yếu tố gây ung thư.
Thắt ống dẫn tinh là một phẫu thuật ngoại trú ít rủi ro và có hiệu
quả rất cao. Vô sinh có thể chậm sau 2-6 tháng, phải sử dụng các hình
thức ngừa thai khác tới hết hai lần xuất tinh không có tinh trùng như là
bằng chứng của vô sinh.
DỤNG CỤ TỬ CUNG
Dụng cụ tử cung ngừa thai chủ yếu do tác dụng diệt tinh trùng gây ra
bởi một phản ứng viêm vô trùng do sự xuất hiện một vật ngoại lai trong
buồng tử cung (Dụng cụ tử cung bằng đồng) hoặc do giải phóng progestin (Progestasert,
Mirena). Dụng cụ tử cung cho hết quả cao mà không có tác dụng phụ về
chuyển hóa và không cần thay đổi vị trị đặt khi đã đặt dụng cụ vào trong
tử cung. Tuy nhiên, chỉ 1% phụ nữ Hoa Kỳ áp dụng phương pháp này so với
15-30% phụ nữ áp dụng ở Châu Âu và Canada. Tỷ lệ áp dụng vẫn thấp ngay
cả khi có những bằng chứng rằng những dụng cụ mới đây không làm tăng tỷ
lệ nhiễm trùng vùng chậu và hiếm muộn như từng xảy ra với những dụng cụ
trước đây. Nên khám các bệnh lây truyền qua đường tình dục trước khi đặt
dụng cụ và không nên sử dụng phương pháp này ở phụ nữ có nguy cơ mắc
bệnh lây truyền qua đường tình dục hoặc bệnh viêm nội tâm mạc nhiễm
khuẩn cao.
PHƯƠNG PHÁP HÓC-MÔN
Thuốc ngừa thai đường uống
Do dễ dùng và có hiệu quả cao nên thuốc ngừa thai đường uống được sử
dụng nhiều nhất trong các phương pháp hóc-môn. Thuốc tác dụng do ức chế
rụng trứng, thay đổi màng nhầy cổ tử cung, và biến đổi nội mạc tử cung.
Hiện nay các dạng bào chế được làm từ estrogen và progestin tổng hợp.
Thành phần estrogen trong thuốc chứa ethinyl estradiol hoặc mestranol,
sẽ được chuyển hóa thành ethinyl estradiol. Có nhiều dạng bào chế
progestin tổng hợp. Norethindrone và các dẫn xuất của nó được sử dụng
nhiều trong các dạng bào chế. Norgestimate liều thấp và các progestin
được bào chế gần đây (desogestrel, gestodene, drospirenone) ít gây nam
hóa; levonorgestrel dường như gây nam hóa nhất và nên tránh dùng ở những
bệnh nhân có dấu hiệu tăng nam tính. Ba công thức chính của thuốc ngừa
thai đường uống là: (1) estrogen-progestin kết hợp liều cố định, (2)
estrogen-progestin kết hợp theo từng giai đoạn và (3) chỉ có chứa
progestin. Công thức kết hợp được dùng hàng ngày trong vòng 3 tuần sau
đó dùng 1 tuần không có thuốc trong thời gian có kinh nguyệt. Thuốc chỉ
chứa progestin dùng hàng ngày liên tục. Hiện nay thuốc ngừa thai đường
uống mở rộng đang được nghiên cứu, làm giảm thời gian chảy máu do giảm
nội tiết (withdrawal bleeding). Một chế độ uống thuốc ba tháng một lần
đang được thử nghiệm ở Hoa Kỳ. Các nghiên cứu sơ bộ cho thấy giảm đau
đầu, mặc dù có tai biến chảy máu “chọc thủng” (breakthough bleeding) sớm.
Hiện nay liều dùng ethinyl estradiol từ 20 đến 50 µg. Tuy nhiên, hiếm
khi chỉ định liều dùng 50 µg, và phần lớn công thức chứa 30 µg ethinyl
estradiol. Việc giảm estrogen và progesterone trong thuốc ngừa thai thế
hệ 2 hoặc 3 đã làm giảm tác dụng phụ và các nguy cơ kèm theo khi dùng
thuốc (Bảng 45-2). Với liều dùng hiện nay, bệnh nhân lưu ý không được
quên uống thuốc do có khả năng rụng trứng. Tác dụng phụ, bao gồm chảy
máu “chọc thủng” (breakthough bleeding), vô kinh, ngực nhạy cảm, và tăng
cân, sẽ đỡ nếu thay đổi công thức.
Thuốc chỉ chứa progestin liều lượng cực nhỏ có tác dụng ngừa thai
thấp với tỷ lệ có thai là từ 2 đến 7%. Tuy nhiên, thích hợp với phụ nữ
có bệnh tim mạch và phụ nữ không dung nạp estrogen tổng hợp.

Các phương pháp mới
Hiện đã có miếng dán ngừa thai hàng tuần (Ortho Evra). Hiệu quả như
ngừa thai đường uống nhưng có thể ít chảy máu “chọc thủng” (breakthough
bleeding) hơn. Khoảng 2% miếng dán không dính vào da và có một tỷ lệ
phản ứng da tương tự như vậy. Hiệu quả thấp hơn ở phụ nữ nặng trên 90
kg. Cũng có phương pháp tiêm ngừa thai hàng tháng (Lenelle). Thuốc
estrogen-progestin kết hợp này có hiệu quả cao với tỷ lệ thất bại năm
đầu là <0,2%, ít hiệu quả hơn ở phụ nữ béo phì. Khi dùng thì có chảy máu
bất thường nhưng giảm theo thời gian. Sau khi ngưng thuốc thì rất mau có
thai lại. Vòng âm đạo hàng tháng (NuvaRing) hiện đã được phép sử dụng.
Nó có hiệu quả cao với tỷ lệ thất bại năm đầu là <0,7%. Dụng cụ này được
đặt khi quan hệ. Nếu lấy ra khi quan hệ, phải đặt lại trong vòng 3 giờ.
Sau khi ngưng sử dụng, rụng trứng sẽ phục hồi trong chu kỳ đầu tiên.
Ngừa thai dài hạn
Progestin dài hạn dùng dưới dạng Depo-Provera và Norplant (Bảng 45-1)
tác dụng chủ yếu bằng cách ức chế rụng trứng và gây biến đổi nội mạc tử
cung và chất nhày cổ tử cung gây giảm khả năng làm tổ và vận chuyển tinh
trùng. Tiêm bắp Depo-Provera có tác dụng trong 3 tháng nhưnng sau khi
ngưng sử dụng thì thời gian có thai lại có thể chậm từ 12 đến 18 tháng.
Norplant đòi hỏi phải cấy khi phẫu thuật và có tác dụng tới 5 năm sau
cấy. Sau khi lấy ra thì có thai lại nhanh. Vô kinh, chảy máu bất thường,
và tăng cân là những tác dụng phụ thường gặp nhất trong cả hai phương
pháp này. Lợi ích chính của phương pháp tiêm progestin này là không có
tăng nguy cơ huyết khối động tĩnh mạch nhưng tăng bệnh túi mật và có thể
giảm mật độ xương.
NGỪA THAI SAU GIAO HỢP
Phương pháp ngừa thai sau giao hợp ngăn chặn việc làm tổ và gây thoái
hóa hoàng thể và rất có hiệu quả nếu sử dụng đúng cách. Quan hệ không
phòng ngừa không tính thời gian có thể gây 8% có thai ngoài ý muốn. Tỷ
lệ này có thể giảm xuống 2% nếu sử dụng biện pháp ngừa thai khẩn cấp
trong vòng 72 giờ kể từ khi quan hệ. Một số thuốc ngừa thai đường uống
có thể sử dụng trong vòng 72 giờ sau quan hệ [Ovral (2 viên nén, cách
nhau 12 giờ) và Lo / Ovral (4 viên nén, cách nhau 12 giờ)]. Preven (50
mg ethinyl estradiol và 0,25 mg levonorgestrel) và Plan B (0.75mg
levonorgestrel) hiện đã được phép sử dụng. Phản ứng phụ thường xảy ra
khi dùng hóc-môn liều cao và bao gồm buồn nôn, ói mửa, và đau ngực.
Những nghiên cứu gần đây cho thấy 600 mg mifepristone (RU486), chất đối
kháng thụ thể progesterone, có thể có hiệu quả tương tự hoặc tốt hơn
phác đồ hóc-môn mà lại ít tác dụng phụ.
NGỪA THAI HÓC-MÔN Ở NAM GIỚI
Một phương pháp ngừa thai ở nam giới có hiệu quả và có thể hủy ngang
đã được nghiên cứu từ lâu và các cuộc điều tra cho thấy rằng một "thuốc
ngừa thai nam giới" sẽ được cả nam và nữ chấp nhận. Ngăn chặn sinh tinh
là yêu cầu của ngừa thai nhưng thực tế khó có thể thành công khi chỉ
dùng testosterone. Tuy nhiên, sự kết hợp giữa testosterone có tác dụng
kéo dài với một chất đối kháng GnRH hoặc một loại progestin như
norgestral, desonorgestrel, hoặc norethisterone có tác dụng ngừa thai,
cho thấy một thuốc ngừa thai ở nam giới sẽ xuất hiện trong thời gian tới.
Dịch từ nguyên bản Infertility and Fertility Control,
Janet E. Hall, Harrison’s Principle of Internal Medicine, 16th Edition
bởi healthconsul@gmail.com
tại www.dulichchuabenh.vn
(Tải xuống bản pdf đầy đủ
>>>)
Đọc thêm:
Kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
® Ghi
rõ nguồn "dulichchuabenh.vn" khi phát hành lại thông tin từ website
này dưới mọi hình thức. |