Loading

Quy trình điều trị bệnh não úng thủy - Dr. Benjamin Warf

HYDROCEPHALUS

1. Não úng thủy là gì?

Ở trung tâm của não là một không gian chứa chất lỏng được gọi là não thất. Chất dịch (hay dịch não tủy) được sản xuất liên tục ở tỉ lệ 20cc/giờ, trong những điều kiện bình thường, chất dịch này thoát ra ngoài não thất và được hút ra khỏi não bộ ở một tỉ lệ tương tự. Não úng thủy hình thành khi cống lưu thông và sự hấp thu chất dịch ra khỏi não bị suy yếu. Điều này dẫn đến quá trình tích lũy dịch não tủy trong các não thất (các bể chứa bình thường bên trong), và kết quả là phá hủy sự phát triển của não, làm chậm phát triển trí tuệ cũng như suy yếu thị giác.

Ở nhũ nhi, não úng thủy còn dẫn đến việc đầu phình to một cách bất thường (Tật đầu to - macrocephaly). Với những đứa trẻ hớn hơn, áp lực nội sọ có thể dẫn đến hôn mê và chết. Não úng thủy có thể tồn tại như một bệnh bẩm sinh độc lập hoặc đi kèm với các dị tật bẩm sinh thông thường khác như nứt đốt sống (spina bifida) và encephalocele. Trong trường hợp thoát vị não tủy (spina bifida aperta – myelomeningocele), tỉ lệ bị não úng thủy lên đến 85-90%.

Não úng thủy có thể làm phát sinh các bệnh thứ cấp như xuất huyết nội tâm thất ở trẻ sinh non, nhiễm trùng (ví dụ: viêm màng não do vi khuẩn), chấn thương đầu hay u não. Nếu được điều trị đúng lúc và phù hợp, não úng thủy có thể hoàn toàn được chữa khỏi, và những trẻ bị não úng thủy độc lập có thể phát triển bình thường. Nếu không chữa trị thì kết quả có thể dẫn đến tử vong.

2. Phẫu thuật đặt lưu dẫn não thất - ổ bụng (đặt shunt) (Ventriculoperitoneal Shunting)

Hiện nay, phẫu thuật đặt shunt là cách thông dụng nhất để điều trị bệnh não úng thủy. Phương pháp mới hơn (ventriculostomy đời thứ ba) có thể giúp ích cho một vài bệnh nhân, nhưng kỹ năng và kỹ thuật chưa được phổ biến, phương pháp này chỉ phù hợp cho những bệnh nhân bị não úng thủy tắc nghẽn (noncommunicating hydrocephalus), và kỹ thuật có thể khó hơn với những bệnh nhân bị myelomeningocele. Phẫu thuật đặt shunt chắc chắn sẽ là cơ sở chính cho việc điều trị Não úng thủy một thời gian dài.

Trong phẫu thuật đặt shunt, một cái ống được đặt xuyên qua một lỗ nhỏ trong hộp sọ, thông với các khoảng trống trong não thất nơi chứa dịch não tủy. Ống này được nối với một ống khác, chạy bên dưới da xuống bụng, rồi đi vào ổ bụng. Ống shunt lưu dẫn dịch não tủy ra khỏi não thất và đi vào khoang phúc mạc. Thông thường trong hệ thống có van điều chỉnh dòng chảy của dịch.

3. Những gì cần thiết để giải phẩu đặt shunt thành công?

Bố mẹ phải hợp tác

Một biểu đồ đường cong và một thước dây

Phòng thực hiện những xét nghiệm cơ bản

Bác sĩ phẫu thuật được đào tạo trong lãnh vực đặt shunt cũng như quản lý các vấn đề về shunt và biến chứng

Chăm sóc tiền và hậu phẫu

Gây mê

Phòng mổ

Ống shunt

Kháng sinh

4. Não úng thủy được chẩn đoán như thế nào?

Ở các nước đang phát triển (cũng như các nước khác), chúng ta nên tránh những nghiên cứu không cần thiết. Điều này làm tăng chi phí đáng kể cũng như tạo áp lực lên gia đình và đứa trẻ. Những việc làm tốn kém như chụp CT hay MRI, mặc dù là lý tưởng , nhưng không cần thiết cho việc chẩn đoán và điều trị não úng thủy ở nhũ nhi, vì những dấu hiệu lâm sàng ở trẻ thường quan sát trực tiếp được. (Tuy nhiên những phương pháp này lại cần thiết cho trẻ lớn tuổi hơn và cho người lớn)

Với nhũ nhi, dấu hiệu lâm sàng chính của bệnh não úng thủy là việc phát triển nhanh của dầu. Điều này được xác định bởi một loạt các số đo được thu thập trên biểu đồ đường cong phát triển. Sự phát triển của đầu có dấu hiệu tăng nhanh khi số đo vòng đầu không tuân theo một trong các đường cong phát triển bình thường, tuy nhiên cũng cần ghi chú rằng sự phát triển nhanh vòng đầu không phải luôn luôn do não úng thủy. Bệnh đầu to lành tính (Benign macrocephaly) cũng làm đầu to ra và phát triển lớn lên trong năm đầu tiên. Điều này thỉnh thoảng xảy ra trong một số gia đình.

Vì thế, cần phải nhấn mạnh rằng, khi không xét nghiệm bằng hình ảnh, việc chẩn đoán bệnh não úng thủy cần thực hiện cùng với các triệu chứng lâm sàng khác. Thóp trước của trẻ luôn luôn đầy đặn hay phồng ra và căng lên, tùy theo áp lực nội sọ tăng như thế nào. Khoảng trống giữa các khớp của hộp sọ (thông thường thì chưa khép lại cho đến khi trẻ lớn hơn chút nữa) có thể bị mở rộng ra bởi vì những cái xương đang bị đẩy ra xa. Thỉnh thoảng (không thường xuyên) mắt trẻ nhìn xuống hoặc lé trong một lúc lâu.

5. Điều trị

Các loại shunt được sử dụng phổ biến ở Bắc Mỹ và Châu Âu rất đắt tiền. Tuy nhiên những nghiên cứu khác về hệ thống shunt, mặc dù có thuận lợi đáng kể ngòai việc đơn giản hơn, ít tốn kém hơn, vẫn chưa được ứng dụng. Kinh nghiệm cho thấy có những loại shunt rẻ ttiền hơn vẫn đáp ứng thỏa đáng các yều cầu. Những yếu tố khác (ngoài loại shunt sử dụng) có thể quan trọng hơn nhiều trong việc điều trị bệnh Não úng thủy. Những yếu tố này bao gồm chẩn đoán và điều trị sớm, kinh nghiệm, kỹ năng, đánh giá của bác sĩ giải phẩu, môi trường mổ và chăm sóc hậu phẫu, theo dõi bệnh nhân, và sự quan tâm, hiểu biết cũng như tuân thủ qui tắc của ông bố bà mẹ.

Ở nhiều nước đang phát triển, các bác sĩ tự tạo ra ống shunt tại nhà bằng ống truyền thức ăn và kết quả cũng khá tốt.

6. Sự chọn lọc để đặt ống shunt

Việc chọn trẻ bị não úng thủy để đặt shunt sao cho có lợi cho trẻ là rất quan trọng. Đặt Shunt đưa ra giải pháp cho trẻ nhưng không phải là giải pháp tuyệt đối. Nó giúp đỡ cũng như tránh những khuyết tật có thể có, nhưng có thể gây ra biến chứng. Khi việc chọn lựa hoặc việc đặt shunt không được thực hiện đúng cách, thì các biến chứng phát sinh có thể nhiều hơn là khả năng nó có thể ngăn ngừa. Vì thế việc chọn đúng trẻ là rất quan trọng và phải bảo đảm rằng các điều kiện nằm trong các tiêu chuẩn có thể chấp nhận được trước khi nổ lực cho việc đặt shunt.

7. Khi nào không cần đặt shunt?

Với trẻ có đầu rất to, việc đặt shunt có thể gây xuất huyết trong não. Kết quả của việc đặt shunt (liên quan đến sự phát triển của não) cũng có ít hy vọng.

Trẻ bị não úng thủy ổn định (không có dấu hiệu của áp lực cao và đầu bị phình ra) thì không cần điều trị.

Trẻ bị nhiễm trùng, đặc biệt là nhiễm trùng liên quan đến dịch não tủy, thì cần được điều trị trước khi đặt shunt.

Khoảng cách: trẻ sống quá xa những khu y yế. Shunt có thể bị tắc và dịch vụ phải tiếp cận trong vòng ít nhất 24 - 48 giờ, nếu không thì một đứa trẻ được giải phẫu đang trong tình trạng tốt có thể chết vì biến chứng. Vì thế, một chế độ chăm sóc hợp lý cần được xem xét. Cần duy trì việc chăm sóc trẻ sau khi giải phẫu đặt shunt.

Khi sức khỏe tổng quát của trẻ (suy dinh dưỡng, thiếu máu, sốt rét, sốt...) chưa sẵn sàng cho việc phẩu thuật, thì việc điều trị tiền phẫu thuật là cần thiết.

8. Chăm sóc trước và sau khi phẫu thuật

Lắng nghe ý kiến của người mẹ và ghi lại thông tin. Người mẹ sẽ biết rõ con của mình cũng như những thay đổi xảy ra với trẻ, thậm chí trước khi triệu chứng khách quan xuất hiện

Người mẹ có những thông tin trong quá khứ và tình trạng hiện tại. Người mẹ phát hiện ra triệu chứng lần đầu tiên là khi nào? Những người thân xung quanh phản ứng ra sao? Tình trạng tài chánh của người mẹ như thế nào? Người mẹ sống ở đâu? v.v...

Thu thập số liệu về kích thước đầu trên đường cong kèm theo. Đường cong là cách để đo sự tiến triển của chu vi đầu. Đối với trẻ nhỏ (dưới 20 tháng tuổi), đầu sẽ ngày càng phình to khi bệnh Não úng thủy phát triển. Chỉ khi nào chu vi của đầu tăng lên thì mới giải phẫu đặt shunt.

Việc tiền phẫu thuật rút nước ra khỏi não có thể kèm theo nhiễm trùng. Chỉ những người có kỹ năng tốt mới nên thực hiện việc này.

Nếu nước không được lấy ra khỏi não trước khi phẫu thuật đặt shunt thì bác sĩ phẫu thuật phải lấy nước ra trong suốt thời gian mổ. Điều này sẽ có ích nếu như nhiễm trùng xảy ra sau khi phẫu thuật.

Mỗi lần có sự can thiệp phẫu thuật là mỗi lần đánh giá lại tình trạng tổng quát của trẻ. Nếu quá trình giải phẫu đặt shunt cần hoãn lại việc rút dịch ra khỏi não thất (hay rút dịch tủy nếu trẻ bị Communicating Hydrocephalus) có thể làm giảm áp lực trong vài ngày (Lặp lại việc lưu thông dịch não có thể có hại)

Kháng sinh trước và sau khi mổ có thể hữu dụng và cần thiết tùy thuộc vào tình hình bệnh.

Cần chắc chắn rằng bác sĩ phẩu thuật có mặt trong ngày đầu tiên sau khi mổ.

Hướng dẫn cho người mẹ cách cư xử với trẻ và xử lý nếu có biến chứng

9. Hướng dẫn cho bố mẹ

Hướng dẫn họ cách lấy số liệu về kích thước vòng đầu.

Thông báo cho họ những biến chứng có thể xảy ra

Nói cho họ nghe phải làm những gì nếu xuất hiện áp lực nội sọ cao

Đưa cho họ bộ thông tin (thước dây, đường cong, tờ rơi)

Họ cần được nắm thông tin nhưng đừng làm họ lo lắng. Tốt hơn hết là đừng nhấn mạnh chuyện mổ xẻ, đó chỉ là một ca mổ đơn giản và dễ dàng. Và quan trọng là bố mẹ phải hiểu ống shunt hoạt động như thế nào. Sẽ có ích nếu cho họ coi ống shunt trước.

10. Phải làm gì nếu không đặt shunt

Khi bệnh não úng thủy đang phát triển hoặc đã phát triển thì không cần đặt shunt, bạn cũng biết rằng đứa trẻ và gia đình phải đối mặt với tình trạng khó khăn kéo dài. Cũng cần giúp đỡ và hổ trợ những người thân của trẻ (mẹ, ….) cũng như trẻ bị não úng thủy để họ có một cuộc sống tốt hơn, thoải mái hơn.

Có thể làm được gì?

→ Hỗ trợ người mẹ

→ Cung cấp phương tiện (phương tiện ngồi và đi bộ)

→ Hỗ trợ trẻ về những hoạt động hàng ngày (hoạt động trị liệu)

→ Sắp xếp cho trẻ đi học hoặc làm việc

→ Vật lý trị liệu...

11. Ống shunt Chhabra

Ở hầu hết các nước hay các dự án, vấn đề đầu tiên cần phải vượt qua là ống shunt. Một nghiên cứu khoa học gần đây của Dr B. Warf, cố vấn y khoa của IF, cho thấy rằng shunt Chhabra có chất lượng tương tự như loại shunt Codman đắt tiền của Mỹ.

Nguồn: Hiệp hội não úng thủy và nứt đốt sống quốc tế - www.ifglobal.org