Loading

Tâm thần phân liệt

SCHIZOPHRENIA

Tâm thần phân liệt là một rối loạn chức năng não mãn tính, trầm trọng. Khoảng 1% người Mỹ mắc bệnh này.

Người bệnh có thể nghe thấy tiếng nói mà người khác không nghe thấy. Họ có thể cho rằng những người khác đang đọc tâm trí của họ, điều khiển tư duy của mình, hoặc có âm mưu làm hại mình. Điều này có thể làm người bệnh sợ hãi và làm cho họ hết kích động hoặc cực kỳ kích động.

Những người bị tâm thần phân liệt có thể nói chuyện vô nghĩa. Họ có thể ngồi hàng giờ mà không di chuyển hay nói chuyện. Đôi khi những người bị tâm thần phân liệt dường như hoàn toàn bình thường cho đến khi họ nói về những gì họ đang thực sự suy nghĩ.

Gia đình và xã hội cũng bị ảnh hưởng bởi bệnh tâm thần phân liệt. Nhiều người bị tâm thần phân liệt rất khó khăn khi làm việc hoặc tự chăm sóc cho mình, vì thế họ dựa vào sự giúp đỡ của người khác.

Điều trị giúp giảm bớt nhiều các triệu chứng tâm thần phân liệt, nhưng hầu hết bệnh nhân tâm thần phân liệt phải đối phó với các triệu chứng trong suốt cuộc đời. Tuy nhiên, nhiều người tâm thần phân liệt có thể sống có ích và có ý nghĩa trong cộng đồng. Các nhà nghiên cứu đang phát triển các loại thuốc có hiệu quả hơn và sử dụng các công cụ nghiên cứu mới để tìm hiểu các nguyên nhân tâm thần phân liệt. Trong những năm tới, việc này có thể giúp ngăn ngừa và điều trị bệnh tốt hơn.

Các triệu chứng tâm thần phân liệt

Các triệu chứng của tâm thần phân liệt chia thành ba loại chính: các triệu chứng tích cực, các triệu chứng tiêu cực, và các triệu chứng nhận thức.

Các triệu chứng tích cực

Các triệu chứng tích cực là những hành vi lọan thần không có trên người khỏe mạnh. Những người có triệu chứng tích cực thường xuyên "bị mất liên hệ" với thực tế. Những triệu chứng này có thể xuất hiện và biến mất. Đôi khi những triệu chứng này rất nặng và tại những thời điểm khác thì khó nhận biết, tuỳ thuộc vào việc có được điều trọ hay không. Chúng bao gồm:

Ảo giác là những điều mà một người nhìn thấy, nghe thấy, ngửi, hoặc cảm thấy nhưng không có ai khác ngoài người này có thể nhìn thấy, nghe thấy, ngửi, hoặc cảm thấy. "Tiếng nói" là những loại phổ biến nhất của ảo giác trong tâm thần phân liệt. Nhiều người bệnh nghe thấy tiếng nói. Tiếng nói có thể nói chuyện với người bệnh về hành vi của bệnh nhân, ra lệnh người bệnh làm điều gì đó, hoặc cảnh báo nguy hiểm. Đôi khi các giọng nói nói chuyện với nhau. Những người bị tâm thần phân liệt có thể nghe thấy tiếng nói trong một thời gian dài trước khi gia đình và bạn bè nhận ra.

Các loại khác của ảo giác bao gồm nhìn thấy người hay đồ vật mà mà không có ở đó, ngửi thấy mùi mà không ai khác phát hiện thấy, và cảm thấy những thứ như các ngón tay vô hình chạm vào cơ thể của họ khi không có ai ở gần.

Hoang tưởng là niềm tin sai sự thật mà không nằm trong nền giáo dục của người bệnh và không thay đổi. Người bệnh tin vào hoang tưởng ngay cả sau khi người khác chứng minh rằng niềm tin đó không đúng sự thật hay không hợp lý. Những người bị tâm thần phân liệt có thể có hoang tưởng có vẻ rất kỳ lạ, chẳng hạn như tin rằng hàng xóm có thể kiểm soát hành vi của họ bằng sóng điện từ. Họ cũng có thể tin rằng người trên truyền hình đang gửi các tin nhắn đặc biệt cho họ, hoặc là các đài phát thanh đang phát sóng suy nghĩ của họ cho người khác. Đôi khi, họ tin rằng họ là ai đó khác, chẳng hạn như một nhân vật lịch sử nổi tiếng. Họ có thể có ảo tưởng hoang tưởng và tin rằng có ai đó đang tìm cách làm hại họ, chẳng hạn như bằng cách lừa dối, quấy rối, hạ độc, cài gián điệp, hoặc âm mưu chống lại họ hoặc những người họ quan tâm. Những niềm tin này được gọi là "hoang tưởng bị truy hại"

Các rối loạn tư duy là rối loạn bất thường hoặc rối lọan chức năng cách suy nghĩ. Một hình thức của rối loạn tư duy được gọi là "mất khả năng tư duy." Điều này xảy ra khi một người khó sắp xếp những suy nghĩ của mình hoặc kết nối chúng một cách logic. Họ có thể nói chuyện một cách méo mó rất khó hiểu. Một hình thức được gọi là "tư duy đứt nghẹn" Điều này xảy ra khi một người đột ngột dừng nói khi đang tư duy giữa chừng. Khi được hỏi lý do tại sao ngưng nói, người bệnh có thể nói rằng họ cảm thấy như thể suy nghĩ này đã biến mất khỏi đầu. Điểm cuối cùng, một người rối lọan tư duy có thể tạo ra từ vô nghĩa, hay "từ mới".

Các rối loạn vận động có thể xuất hiện các động tác cơ thể kích động. Một người bị rối loạn chuyển động có thể lặp lại các chuyển động nhất định liên tục. Ở thái cực khác, người bệnh có thể trở nên căng trương lực. Căng trương lực (Catatonia) là một trạng thái khi người bệnh không di chuyển được và không đáp ứng với những người khác. Căng trương lực hiếm xảy ra hiện nay, nhưng xảy ra phổ biến hơn khi tâm thần phân liệt không được điều trị

"Tiếng nói" là loại ảo giác phổ biến nhất trong tâm thần phân liệt.

Các triệu chứng tiêu cực

Các triệu chứng tiêu cực kèm theo gián đoạn những cảm xúc và hành vi bình thường. Những triệu chứng này khó nhận ra như một phần của bệnh và có thể bị nhầm lẫn với trầm cảm hoặc các bệnh khác. Những triệu chứng này bao gồm:

→ "Tình cảm tẻ nhạt” (bộ mặt bệnh nhân không di chuyển hoặc bệnh nhân nói một giọng đơn điệu và vô cảm)

→ Thiếu niềm vui trong cuộc sống hàng ngày

→ Thiếu khả năng để bắt đầu và duy trì các hoạt động dự kiến

→ Ít nói, ngay cả khi buộc phải trao đổi.

Những người có triệu chứng tiêu cực cần được giúp đỡ với công việc hàng ngày. Họ thường bỏ bê việc vệ sinh cá nhân cơ bản. Điều này có thể làm cho họ có vẻ lười biếng hoặc không muốn tự chăm sóc bản thân, nhưng vấn đề là những triệu chứng này gây ra do bệnh tâm thần phân liệt.

Các triệu chứng nhận thức

Các triệu chứng nhận thức rất khó thấy. Giống như các triệu chứng tiêu cực, các triệu chứng nhận thức khó phát hiện là một phần của bệnh tâm thần phân liệt. Thông thường, chúng chỉ được phát hiện khi tiến hành các thử nghiệm. Các triệu chứng nhận thức bao gồm:

→ “Chức năng thực hiện” kém (khả năng hiểu thông tin và sử dụng thông tin để đưa ra quyết định)

→ Khó tập trung hay chú ý

→ Ghi nhớ kém (khả năng sử dụng thông tin ngay lập tức sau khi đã học).

Các triệu chứng nhận thức thường gây khó khăn trong cuộc sống và kiếm sống. Chúng có thể gây ra căng thẳng cảm xúc.

Khi nào thì bệnh tâm thần phân liệt xuất hiện và ai bị bệnh

Tâm thần phân liệt xuất hiện bằng nhau ở nam và nữ. Tỷ lệ xảy ra tương đương ở tất cả các dân tộc trên thế giới. Các triệu chứng như ảo giác và hoang tưởng thường bắt đầu từ lứa tuổi 16 và 30. Đàn ông có xu hướng xuất hiện triệu chứng sớm hơn phụ nữ một chút. Hầu hết không xuất hiện tâm thần phân liệt sau tuổi 45. Tâm thần phân liệt hiếm khi xảy ra ở trẻ em, khởi phát tâm thần phân liệt thấy đang tăng ở trẻ em.

Khó có thể chẩn đoán tâm thần phân liệt ở tuổi thiếu niên. Điều này là do những dấu hiệu đầu tiên có thể bao gồm đổi bạn, học đúp một lớp, rối loạn giấc ngủ, và khó chịu - hành vi phổ biến ở thanh thiếu niên. Kết hợp các yếu tố có thể dự đoán tâm thần phân liệt lên đến 80% thanh thiếu niên có nguy cơ mắc bệnh cao. Các yếu tố này bao gồm cô lập mình và tránh xa những người khác, tăng suy nghĩ bất thường và nghi ngờ, có tiền sử gia đình rối loạn tâm thần. Ở những người trẻ mắc bệnh, giai đoạn này của bệnh được gọi là "giai đọan tiền triệu".

Bệnh nhân tâm thần phân liệt có bạo lực không?

Những người bị tâm thần phân liệt thường không bạo lực. Trong thực tế, hầu hết tội phạm bạo lực nhất không phải là do bệnh tâm thần phân liệt. Tuy nhiên, một số triệu chứng có liên quan đến bạo lực, như hoang tưởng bị truy hại. Lạm dụng dược chất cũng có thể làm tăng cơ hội trở thành bạo lực. Nếu một người bị tâm thần phân liệt trở nên bạo lực, bạo hành thường hướng vào các thành viên gia đình và có xu hướng diễn ra tại nhà.

Nguy cơ bạo lực trong tâm thần phân liệt là nhỏ. Nhưng người bệnh tìm cách tự tử nhiều hơn người khác. Khoảng 10% (đặc biệt là nam giới trẻ tuổi) chết do tự tử. Thật khó để dự đoán người tâm thần phân sắp tự tử. Nếu bạn biết ai đó nói về vấn đề tự tử hoặc tìm cách tự tử, giúp đỡ họ hoặc tìm kiếm chuyên gia trợ giúp ngay lập tức.

Những người bị tâm thần phân liệt thường không bạo lực.

Lạm dụng dược chất là gì?

Một số người lạm dụng dược chất có triệu chứng tương tự như tâm thần phân liệt. Vì vậy, người tâm thần phân liệt có thể bị nhầm lẫn với những người đang bị ảnh hưởng bởi thuốc. Hầu hết các nhà nghiên cứu không tin rằng lạm dụng duợc chất gây ra tâm thần phân liệt. Tuy nhiên, những người mắc tâm thần phân liệt có nhiều khả năng lạm dụng dược chất hoặc lạm dụng rượu hơn so với dân số chung.

Lạm dụng dược chất có thể làm điều trị tâm thần phân liệt ít hiệu quả. Một số loại thuốc, như cần sa và các chất kích thích như amphetamines hoặc cocaine, có thể làm triệu chứng nặng hơn. Trong thực tế, nghiên cứu đã tìm thấy bằng chứng gia tăng liên kết giữa cần sa và các triệu chứng tâm thần phân liệt. Ngoài ra, những người lạm dụng dược chất ít có khả năng thực hiện theo kế hoạch điều trị của họ.

Tâm thần phân liệt và thuốc lá

Nghiện đến nicotin là hình thức phổ biến nhất của lạm dụng thuốc ở những người bị tâm thần phân liệt. Tỷ lệ bệnh nhân tâm thần phân liệt nghiện nicotine gấp ba lần tỷ lệ dân số nói chung (75-90% so với 25-30%).

Mối quan hệ giữa hút thuốc và tâm thần phân liệt rất phức tạp. Những người bị tâm thần phân liệt dường như có xu hướng hút thuốc, và nhà nghiên cứu đang tìm hiểu liệu có tồn tại một cơ sở sinh học cho nhu cầu này hay không. Ngoài mối nguy hiểm sức khỏe được biết đến của nó, một số nghiên cứu cho thấy rằng hút thuốc có thể làm cho thuốc chống loạn thần ít hiệu quả.

Bỏ hút thuốc có thể rất khó khăn cho những người có tâm thần phân liệt vì bỏ thuốc có thể gây ra triệu chứng tâm thần nặng hơn trong một thời gian. Chiến lược bỏ thuốc bao gồm các liệu pháp thay thế nicotine có thể dễ dàng áp dụng hơn cho bệnh nhân. Các bác sĩ chữa trị cho bệnh nhân tâm thần phân liệt nên theo dõi phản ứng đối với thuốc chống loạn thần nếu bệnh nhân quyết định để bắt đầu hút thuốc hoặc ngừng hút thuốc lá.

Nguyên nhân gây tâm thần phân liệt?

Các chuyên gia cho rằng tâm thần phân liệt là do nhiều yếu tố.

Gen và môi trường. Các nhà khoa học từ lâu đã biết rằng tâm thần phân liệt xảy ra trong các gia đình. Bệnh xảy ra ở 1% dân số nói chung, nhưng nó xảy ra ở 10% những người có thân nhân mắc các rối loạn ở hàng thứ nhất, chẳng hạn như cha mẹ, anh, chị em. Những người thân ở hàng thứ hai (cô dì, chú bác, ông bà, hay anh em họ) mắc bệnh tâm thần phân liệt cao hơn dân số nói chung. Nguy cơ cao nhất là cho cặp sinh đôi mà một người mắc tâm thần phân liệt. Người này có 40-65% nguy cơ mắc bệnh.

Chúng ta thừa hưởng gen của chúng tôi từ cả cha lẫn mẹ. Các nhà khoa học tin rằng một số gen có liên quan với tăng nguy cơ tâm thần phân liệt, nhưng không có gen nào gây ra bệnh. Trong thực tế, nghiên cứu gần đây đã tìm thấy rằng những người bị tâm thần phân liệt có xu hướng đột biến gen quý hiếm cao hơn. Các biến đổi di truyền này liên quan đến hàng trăm gen khác nhau và có thể phá vỡ sự phát triển của não.

Các nghiên cứu khác gần đây cho thấy rằng tâm thần phân liệt có thể một phần do một gen quan trọng nào đó làm trục trặc hóa chất trong não. Vấn đề này có thể ảnh hưởng đến phần của não liên quan đến sự phát triển các chức năng thực hành cao hơn. Nghiên cứu gen này đang được tiếp tục, do đó, chưa thể sử dụng thông tin di truyền để dự đoán ai sẽ mắc bệnh.

Mặc dù vậy, các xét nghiệm quét gen của một người có thể được đặt mua mà không có chỉ định hay lời khuyên của chuyên gia y tế. Xét nghiệm được quảng cáo là chỉ với một mẫu nước bọt, một công ty có thể xác định một người có nguy cơ mắc các bệnh cụ thể, bao gồm cả bệnh tâm thần phân liệt. Tuy nhiên, các nhà khoa học vẫn chưa biết tất cả các biến thể gen gây tâm thần phân liệt. Những gen gây tăng nguy cơ bệnh đã biết chỉ là một con số nhỏ. Do đó, việc "quét bộ gen" không có khả năng cung cấp một bức tranh hoàn chỉnh về nguy cơ mắc bệnh tâm thần như bệnh tâm thần phân liệt.

Ngoài ra, có thể rất nhiều gen gây ra rối loạn. Các nhà khoa học nghĩ rằng tương tác giữa gen và môi trường là điều kiện cần thiết để bệnh tâm thần phân liệt xuất hiện. Nhiều yếu tố môi trường có thể tham gia, như tiếp xúc với virus hoặc suy dinh dưỡng trước khi sinh, các vấn đề trong khi sinh, và các yếu tố tâm lý chưa biết.

Các nhà khoa học đang tìm hiểu thêm về hóa học não bộ và liên hệ của chúng với bệnh tâm thần phân liệt.

Cấu trúc não và hóa học não khác nhau. Các nhà khoa học nghĩ rằng sự mất cân bằng trong các phản ứng hóa học phức tạp và tương tác của bộ não liên quan đến chất dẫn truyền thần kinh dopamine và glutamate, và có thể những chất khác, đóng một vai trò trong bệnh tâm thần phân liệt. Các chất dẫn truyền thần kinh là các chất cho phép các tế bào não giao tiếp với nhau. Các nhà khoa học đang tìm hiểu thêm về hóa học não bộ và liên hệ của chúng với bệnh tâm thần phân liệt.

Hơn nữa, não của những người bị tâm thần phân liệt trông khác hơn so với người khỏe mạnh. Ví dụ, khoang chứa đầy dịch ở trung tâm của bộ não, được gọi là não thất, lớn hơn ở một số người tâm thần phân liệt. Não của những người có bệnh cũng có xu hướng có ít chất xám hơn, và một số vùng của não bộ có thể hoạt động ít hơn hoặc nhiều hơn.

Các nghiên cứu về mô não sau khi chết cũng đã tiết lộ sự khác biệt trong não bộ của những người mắc tâm thần phân liệt. Các nhà khoa học tìm thấy thay đổi nhỏ trong việc phân bố hoặc các đặc tính của các tế bào não có thể xảy ra trước khi sinh. Một số chuyên gia nghĩ rằng các rối loạn trong quá trình phát triển trí não trước khi sinh có thể dẫn đến các kết nối bị lỗi. Rối lọan có thể không xuất hiện cho đến tuổi dậy thì. Bộ não trải qua những thay đổi lớn trong tuổi dậy thì, và những thay đổi này có thể kích hoạt các triệu chứng tâm thần. Các nhà khoa học đã nghiên cứu rất nhiều về tâm thần phân liệt, nhưng cần nghiên cứu thêm để giải thích nguyên nhân gây bệnh.

Các nhà khoa học đã nghiên cứu rất nhiều về tâm thần phân liệt, nhưng cần nghiên cứu thêm để giải thích nguyên nhân gây bệnh.

Điều trị bệnh tâm thần phân liệt như thế nào?

Bởi chưa rõ nguyên nhân gây tâm thần phân liệt, điều trị tập trung vào việc loại bỏ các triệu chứng của bệnh. Điều trị bao gồm các thuốc chống loạn thần và trị liệu tâm lý khác nhau.

Thuốc chống loạn thần

Thuốc chống loạn thần đã có từ giữa năm 1950. Các loại cũ hơn được gọi là thuốc chống loạn thần thông thường hay "điển hình". Một số thuốc điển hình thường được sử dụng bao gồm:

→ Chlorpromazin (Thorazine)

→ Haloperidol (HALDOL)

→ Perphenazine (Etrafon, Trilafon)

→ Fluphenazine (Prolixin).

Trong năm 1990, thuốc chống loạn thần mới được phát triển. Những thuốc mới được gọi là thế hệ thứ hai, hoặc thuốc chống loạn thần "không điển hình”.

Một trong các loại thuốc này, clozapine (Clozaril) là một thuốc hiệu quả xử lý các triệu chứng tâm thần, ảo giác, và mất liên hệ với thực tế. Nhưng clozapine đôi khi có thể gây ra một vấn đề nghiêm trọng được gọi là mất bạch cầu hạt, một mất mát của các tế bào bạch cầu giúp cơ thể chống lại nhiễm trùng. Những người dùng clozapine phải xét nghiệm đếm bạch cầu hàng tuần hoặc mỗi hai tuần. Vấn đề này và chi phí xét nghiệm máu trong điều trị clozapine gây khó khăn cho nhiều người. Nhưng clozapine có tiềm năng hữu ích cho những người không đáp ứng với các thuốc chống loạn thần khác.

Các thuốc chống loạn thần không điển hình khác cũng được phát triển, không gây mất bạch cầu hạt. Ví dụ bao gồm:

→ Risperidone (Risperdal)

→ Olanzapine (Zyprexa)

→ Quetiapine (Seroquel)

→ Ziprasidone (Geodon)

→ Aripiprazole (Abilify)

→ Paliperidone (Invega).

Khi bác sĩ nói ngừng uống thuốc, cần giảm thuốc từ từ, không bao giờ ngừng thuốc đột ngột.

Các tác dụng phụ của thuốc là gì?

Một số người có phản ứng phụ khi họ bắt đầu dùng các loại thuốc này. Hầu hết các tác dụng phụ biến mất sau một vài ngày và thường có thể xử lý thành công. Những người đang dùng thuốc chống loạn thần không nên lái xe cho đến khi họ điều chỉnh thuốc mới. Tác dụng phụ của nhiều thuốc chống loạn thần bao gồm:

→ Buồn ngủ

→ Chóng mặt khi thay đổi vị trí

→ Mờ mắt

→ Nhịp tim nhanh

→ Nhạy cảm với ánh nắng mặt trời

→ Phát ban da

→ Rối loạn kinh nguyệt ở phụ nữ.

Thuốc chống loạn thần không điển hình có thể gây tăng cân và thay đổi chuyển hóa ở nguời. Điều này có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường và tăng cholesterol. Nên được bác sĩ theo dõi thường xuyên trọng lượng, nồng độ glucose, và nồng độ lipid trong khi dùng thuốc chống loạn thần không điển hình.

Thuốc chống loạn thần điển hình có thể gây ra tác dụng phụ liên quan đến vận động cơ thể, chẳng hạn như:

→ Cứng đơ

→ Co cơ liên tục

→ Run

→ Khó ngủ

Sử dụng lâu dài thuốc chống loạn thần điển hình có thể dẫn đến một tình trạng gọi là Loạn vận động muộn (tardive dyskinesia - TD). Loạn vận động muộn gây ra chuyển động cơ bắp mà người bệnh không thể kiểm soát. Các cử động thường xảy ra xung quanh miệng. Loạn vận động muộn có thể từ nhẹ đến nặng, và ở một số người rối loạn này không thể chữa khỏi. Đôi khi những người bị loạn vận động muộn phục hồi một phần hoặc hoàn toàn sau khi ngừng uống thuốc.

Loạn vận động muộn ít xảy ra ở những người dùng thuốc chống loạn thần không điển hình, nhưng một số người vẫn có thể bị mắc. Những người nghĩ rằng họ có thể mắc loạn vận động muộn tới bác sĩ kiểm tra trước khi ngừng thuốc.

Sử dụng thuốc chống loạn thần như thế nào và phản ứng của thuốc?

Thuốc chống loạn thần thường ở dạng viên hoặc dạng lỏng. Một số thuốc chống loạn thần được tiêm một hoặc hai lần một tháng.

Các triệu chứng của tâm thần phân liệt, chẳng hạn như cảm giác kích động và ảo giác, thường biến mất sau vài ngày. Các triệu chứng như hoang tưởng thường biến mất trong vòng một vài tuần. Sau khoảng sáu tuần, nhiều người sẽ thấy rất cải thiện.

Tuy nhiên, mọi người phản ứng khác nhau đối với các thuốc chống loạn thần, và không ai có thể nói trước phản ứng sẽ ra sao. Đôi khi cần dùng thử một vài loại thuốc để tìm ra một lọai thuốc phù hợp nhất. Bác sĩ và bệnh nhân có thể làm việc cùng nhau để tìm ra loại thuốc hoặc kết hợp thuốc tốt nhất, cũng như liều phù hợp nhất.

Một số người có thể tái phát các triệu chứng, hoặc nặng thêm. Thông thường, tái phát xảy ra khi ngưng dùng thuốc, hoặc chỉ thỉnh thoảng mới sử dụng. Một số người ngừng uống thuốc, vì họ cảm thấy tốt hơn hoặc họ có thể cảm thấy họ không cần dùng thuốc nữa. Nhưng không nên ngưng dùng thuốc chống loạn thần mà không hỏi ý kiến bác sĩ. Khi bác sĩ nói ngừng uống thuốc, cần giảm thuốc từ từ, không bao giờ ngừng thuốc đột ngột.

Các thuốc chống loạn thần tương tác với các thuốc khác ra sao?

Thuốc chống loạn thần có thể gây tác dụng phụ khó chịu và nguy hiểm khi dùng chung với một số thuốc nhất định. Vì lý do này, tất cả các bác sĩ điều trị cần phải biết tất cả các thuốc mà người bệnh đang dùng. Các bác sĩ cần biết về thuốc theo toa và thuốc không kê toa, sinh tố, khoáng chất và thảo dược bổ xung. Bệnh nhân cũng cần phải thảo luận với bác sĩ về uống rượu hoặc dùng các thuốc khác.

Để tìm hiểu thêm về họat động của thuốc chống loạn thần, Viện Sức khỏe Tâm thần Quốc gia (NIMH) tài trợ một nghiên cứu gọi là CATIE (Clinical Antipsychotic Trials of Intervention Effectiveness - Thử nghiệm Can thiệp Hiệu quả Chống loạn thần Lâm sàng). Nghiên cứu này so sánh hiệu quả và tác dụng phụ của năm thuốc chống loạn thần được sử dụng để điều trị những người bị tâm thần phân liệt. Nhìn chung, các nghiên cứu cho thấy rằng các thuốc chống loạn thần điển hình trước đây perphenazine (Trilafon) hiệu quả tương đương với thuốc không điển hình mới đây. Nhưng vì bệnh nhân đáp ứng khác nhau đối với thuốc khác nhau, điều quan trọng là trị liệu được thiết kế cẩn thận cho từng người.

Trị liệu tâm lý xã hội

Phương pháp trị liệu tâm lý có thể giúp bệnh nhân tâm thần phân liệt những người đã ổn định bằng thuốc chống loạn thần. Phương pháp trị liệu tâm lý xã hội giúp đỡ những bệnh nhân này đối phó với những thách thức hàng ngày của bệnh tật, chẳng hạn như khó khăn trong giao tiếp, tự chăm sóc, làm việc, và hình thành và giữ mối quan hệ. Học và sử dụng các cơ chế để giải quyết đối phó những khó khăn này cho phép bệnh nhân tâm thần phân liệt hòa nhập xã hội, đi học và làm việc.

Bệnh nhân thường xuyên được điều trị tâm lý cũng có nhiều khả năng uống thuốc đều đặn, và họ sẽ ít tái phát hoặc phải nhập viện. Một bác sị điều trị có thể giúp bệnh nhân hiểu rõ bệnh và điều chỉnh lối sống với bệnh tâm thần phân liệt. Bác sị điều trị có thể cung cấp kiến thức về bệnh tật, các triệu chứng phổ biến hoặc các vấn đề bệnh nhân có thể gặp phải, và tầm quan trọng của việc tiếp tục dùng thuốc.

Kỹ năng kiểm soát bệnh. Những người bị tâm thần phân liệt có thể đóng một vai trò tích cực trong kiểm soát bệnh tật. Một khi bệnh nhân hiểu thông tin cơ bản về tâm thần phân liệt và việc điều trị, họ có thể tự quyết định về việc chăm sóc bản thân. Nếu họ biết làm thế nào để theo dõi các dấu hiệu cảnh báo sớm về tái nghiện và thực hiện một kế hoạch đáp ứng, bệnh nhân có thể học để ngăn ngừa tái phát. Bệnh nhân cũng có thể sử dụng kỹ năng đối phó để chống lại các triệu chứng thường trực.

Điều trị tích cực khi xảy ra lạm dụng dược chất. Lạm dụng dược chất là rối loạn phổ biến nhất xảy ra ở những người bị tâm thần phân liệt. Nhưng các chương trình điều trị lạm dụng dược chất thông thường thường không đáp ứng nhu cầu đặc biệt này của mọi người. Khi chương trình điều trị tâm thần phân liệt và các chương trình điều trị thuốc được sử dụng đồng thời, bệnh nhân có được kết quả tốt hơn.

Phục hồi chức năng. Phục hồi chức năng tập trung vào đào tạo nghề và đào tạo hòa nhập xã hội để giúp bệnh nhân tâm thần phân liệt hoạt động tốt hơn trong cộng đồng. Bởi vì tâm thần phân liệt thường xuất hiện trong lứa tuổi làm việc (tuổi từ 18-35), và bởi vì căn bệnh này gây khó khăn cho tư duy và hoạt động bình thường, hầu hết bệnh nhân không được đào tạo về các kỹ năng cần thiết cho công việc.

Chương trình phục hồi chức năng có thể bao gồm đào tạo và tư vấn việc làm, tư vấn kiểm soát tiền bạc, giúp đỡ cách sử dụng các phương tiện giao thông công cộng, và tạo cơ hội để thực hành kỹ năng giao tiếp. Chưong trình phục hồi chức năng có kết quả tốt khi bao gồm cả đào tạo nghề và liệu pháp điều trị đặc hiệu được thiết kế để nâng cao kỹ năng nhận thức hay tư duy. Những chương trình như thế sẽ giúp bệnh nhân giữ được việc làm, ghi nhớ các chi tiết quan trọng, và cải thiện chức năng.

Giáo dục gia đình. Những người bệnh tâm thần phân liệt thường được xuất viện về gia đình chăm sóc. Vì vậy, điều quan trọng là các thành viên trong gia đình biết càng nhiều càng tốt về căn bệnh này. Với sự giúp đỡ của bác sĩ chuyên khoa, các thành viên gia đình có thể học chiến lược đối phó và kỹ năng giải quyết vấn đề. Bằng cách này, các gia đình có thể giúp người thân của mình duy trì điều trị và tiếp tục dùng thuốc. Các gia đình nên tìm các dịch vụ gia đình và dịch vụ ngoại trú.

Liệu pháp nhận thức hành vi. Liệu pháp nhận thức hành vi (Cognitive behavioral therapy - CBT) là một loại liệu pháp tâm lý, tập trung vào tư duy và hành vi. Liệu pháp nhận thức hành vi giúp bệnh nhân có triệu chứng mà dùng thuốc không hết. Bác sĩ trị liệu dạy bệnh nhân tâm thần phân liệt tự kiểm tra thực tế của tư duy và nhận thức, làm thế nào để "không nghe" tiếng nói của họ, và làm thế nào để kiểm soát các triệu chứng tổng thể. Liệu pháp nhận thức hành vi có thể giúp giảm mức độ trầm trọng của triệu chứng và giảm nguy cơ tái phát.

Các nhóm tự giúp đỡ. Các nhóm tự giúp đỡ cho bệnh nhân tâm thần phân liệt và gia đình của họ đang trở nên phổ biến hơn. Các bác sị trị liệu thường không tham gia, nhưng thành viên nhóm hỗ trợ và an ủi lẫn nhau. Những người trong nhóm tự giúp đỡ biết rằng những người khác đang phải đối mặt với các vấn đề giống mình, do đó có thể giúp mọi người đỡ cảm thấy bị cô lập. Các mạng lưới họat động diễn ra trong các nhóm tự giúp đỡ cũng có thể thông báo cho các gia đình để cùng làm việc cho các nghiên cứu, bệnh viện và chương trình điều trị cộng đồng nhiều hơn. Ngoài ra, nhóm có thể thu hút sự chú ý của công chúng về vấn để phân biệt đối xử mà nhiều bệnh nhân tâm thần phải đối mặt.

Một khi bệnh nhân hiểu thông tin cơ bản về tâm thần phân liệt và việc điều trị, họ có thể tự quyết định về việc chăm sóc bản thân.

Bạn có thể giúp một người bệnh tâm thần phân liệt như thế nào?

Những người bị tâm thần phân liệt có thể nhận được sự giúp đỡ từ các chuyên gia, nguời chăm sóc sức khỏe ban đầu bằng các chương trình tại nhà hoặc trong ngày. Tuy nhiên, các thành viên gia đình thường là nguời chăm sóc sức khỏe ban đầu.

Những người bị tâm thần phân liệt thường chống lại điều trị. Họ có thể không nghĩ rằng họ cần được giúp đỡ bởi vì họ tin rằng hoang tưởng hoặc ảo giác của họ là có thực. Trong những trường hợp này, gia đình và bạn bè có thể cần phải hành động để giữ cho người thân của mình được an toàn. Pháp luật các tiểu bang khác nhau, và có thể khó khăn để buộc một người bị rối loạn tâm thần phải điều trị hoặc nhập viện. Nhưng khi một người trở nên nguy hiểm cho bản than, hoặc cho người khác, các thành viên gia đình hoặc bạn bè có thể gọi cảnh sát để đưa người thân đến bệnh viện.

Điều trị tại bệnh viện. Trong phòng cấp cứu, một chuyên gia sức khỏe tâm thần sẽ đánh giá các bệnh nhân và xác định cần nhập viện tự nguyện hoặc cưỡng bức. Đối với một người không tự nguyện, luật tiểu bang quy định chuyên gia phải chứng kiến hành vi loạn thần và nghe giọng nói hoang tưởng. Gia đình và bạn bè có thể cung cấp thông tin cần thiết để giúp chuyên gia sức khỏe tâm thần quyết định.

Sau khi người thân xuất viện. Gia đình và bạn bè có thể giúp những người thân của họ được điều trị và uống thuốc sau khi họ về nhà. Nếu bệnh nhân ngừng dùng thuốc hoặc ngừng các cuộc hẹn tiếp theo, các triệu chứng có khả năng tái phát. Đôi khi triệu chứng nặng hơn khi dừng thuốc và điều trị. Điều này là nguy hiểm, vì họ không thể tự chăm sóc bản thân. Một số người kết thúc ngoài đường hoặc trong nhà tù, nơi mà họ hiếm khi nhận được giúp đỡ khi cần.

Gia đình và bạn bè cũng có thể giúp bệnh nhân đặt ra mục tiêu thực tế và tìm hiểu môi trường xung quanh. Nên tiến hành các buớc nhỏ và chỉ một bước một để hướng đến những mục tiêu này. Bệnh nhân sẽ cần được hỗ trợ trong thời gian này. Khi bệnh nhân tâm thần bị áp lực và chỉ trích, họ thường không cảm thấy khỏe. Thông thường, các triệu chứng của họ có thể sẽ xấu đi. Nói cho bệnh nhân biết khi họ đang làm một điều đúng đó là cách tốt nhất để giúp họ tiến lên.

Khó có thể biết phản ứng của một ai đó đối với bệnh tâm thần phân liệt những người làm điều kỳ lạ hoặc nói sai một sự thật rõ ràng. Hãy nhớ rằng những niềm tin này hoặc ảo giác này dường như rất thật đối với bệnh nhân. Không có ích khi nói họ sai hoặc tưởng tượng. Nhưng cũng không có lợi khi chiều theo những hoang tưởng đó. Thay vào đó, phải bình tĩnh nói rằng bạn thấy những điều khác nhau. Nói với họ rằng bạn hiểu rằng mọi người đều có quyền nhìn sự vật theo cách riêng của mình. Ngoài ra, điều quan trọng là phải hiểu rằng tâm thần phân liệt là một căn bệnh sinh học. Được tôn trọng, hỗ trợ, và ân cần nhưng không dung túng hành vi nguy hiểm hoặc không phù hợp là cách tốt nhất để tiếp cận những người bị bệnh này.

Những người bị tâm thần phân liệt có thể nhận được sự giúp đỡ từ các chuyên gia, nguời chăm sóc sức khỏe ban đầu bằng các chương trình tại nhà hoặc trong ngày.

Triển vọng cho tương lai

Triển vọng cho những người bị tâm thần phân liệt vẫn tiếp tục được cải thiện. Mặc dù không chữa khỏi bệnh, điều trị vẫn có hiệu quả. Nhiều người bệnh tâm thần phân liệt đã cải thiện nhiều để có cuộc sống độc lập và thỏa mãn.

Các hiểu biết và nghiên cứu tiếp tục về di truyền học, khoa học thần kinh, và khoa học hành vi sẽ giúp các nhà khoa học và chuyên gia y tế hiểu rõ nguyên nhân bệnh và làm thế nào có thể dự đoán và ngăn ngừa. Việc này sẽ giúp các chuyên gia phát triển phương pháp điều trị tốt hơn để giúp bệnh nhân tâm thần phân liệt đạt được đầy đủ tiềm năng của họ

Nguồn: National Institutes of Health (www.nimh.nih.gov)