Loading

Ung thư dạ dày

1. Định nghĩa

Ung thư dạ dày (Stomach cancer – gastric cancer) là ung thư xảy ra trong dạ dày - túi cơ nằm ở giữa phía trên của bụng, ngay dưới xương sườn của bạn. Dạ dày có trách nhiệm tiếp nhận và giữ thực phẩm đã ăn và sau đó nghiền và tiêu hóa thức ăn.

Ung thư dạ dày bắt đầu từ các tế bào sản xuất chất nhầy nằm trên lớp lót bên trong dạ dày (adenocarcinoma). Adenocarcinoma là loại phổ biến nhất của ung thư dạ dày.

Ung thư dạ dày không phổ biến ở Hoa Kỳ, và số người được chẩn đoán với căn bệnh này giảm mỗi năm. Ung thư dạ dày phổ biến hơn ở các khu vực khác trên thế giới, đặc biệt là Nhật Bản.

2. Triệu chứng

Dấu hiệu và triệu chứng của bệnh ung thư dạ dày có thể bao gồm:

→ Mệt mỏi

→ Cảm thấy sưng sau khi ăn

→ Cảm thấy no sau khi ăn mặc dù ăn ít

→ Ợ nóng

→ Khó tiêu

→ Buồn nôn

→ Đau dạ dày

→ Nôn mửa

→ Sút cân

3. Nguyên nhân

Chưa rõ nguyên nhân gây ung thư dạ dày. Nhưng có mối liên quan chặt chẽ một chế độ ăn nhiều chất hun khói, muối và thực phẩm ngâm với ung thư dạ dày. Do tăng sử dụng tủ lạnh để bảo quản thực phẩm trên khắp thế giới, tỷ lệ mắc bệnh ung thư dạ dày đã giảm.

Nói chung, ung thư bắt đầu khi một lỗi (đột biến) xảy ra trong ADN của một tế bào. Đột biến làm tế bào phát triển và phân chia với tốc độ nhanh và để tiếp tục sống khi tế bào bình thường chết. Việc tích lũy các tế bào ung thư hình thành lên một khối u có thể xâm nhập các tổ chức lân cận. Và các tế bào ung thư có thể vỡ ra từ khối u lây lan khắp cơ thể.

Các loại ung thư dạ dày

Các tế bào hình thành lên khối u sẽ quyết định loại ung thư dạ dày. Các loại tế bào ung thư dạ dày của bạn sẽ quyết định cách điều trị. Các loại ung thư dạ dày bao gồm:

Ung thư bắt đầu từ các tế bào tuyến (adenocarcinoma). Các tế bào tuyến lót bên trong dã dày tiết ra lớp nhầy bảo vệ dịch vị axít tiêu hóa. Adenocarcinoma chiếm hơn 90 phần trăm của tất cả các ung thư dạ dày.

Ung thư bắt đầu từ các tế bào của hệ miễn dịch (lymphoma). Các bức tường của dạ dày có chứa một số lượng nhỏ của các tế bào của hệ miễn dịch mà có thể phát triển thành ung thư. Lymphoma trong dạ dày là hiếm gặp.

Ung thư bắt đầu các tế bào sản xuất nội tiết tố (hóc-môn) (ung thư carcinoid). Tế bào sản xuất hóc-môn có thể phát triển thành ung thư. Ung thư carcinoid hiếm gặp.

Ung thư bắt đầu từ các tế bào của hệ thần kinh. Khối u đệm tiêu hóa (gastrointestinal stromal tumor - GIST) bắt đầu từ các tế bào thần kinh đặc hiệu thấy trong dạ dày. GIST là một loại ung thư rất hiếm gặp.

Bởi vì các loại ung thư dạ dày khác hiếm gặp, do đó khi người ta sử dụng thuật ngữ "ung thư dạ dày" thường được đề cập đến ung thư tế bào tuyến (adenocarcinoma).

Yếu tố nguy cơ

Những yếu tố làm tăng nguy cơ ung thư dạ dày bao gồm:

→ Một chế độ ăn nhiều mặn và thực phẩm hun khói

→ Một chế độ ăn ít hoa quả và rau

→ Ăn thức ăn nhiễm nấm aflatoxin

→ Gia Đình có tiền sử bệnh ung thư dạ dày

→ Nhiễm Helicobacter pylori

→ Viêm dạ dày kéo dài (viêm dạ dày mãn tính)

→ Thiếu máu ác tính

→ Hút thuốc

→ Pô líp (polyps) dạ dày

Chuẩn bị khám bệnh

Bắt đầu đi khám bác sĩ gia đình hoặc một bác sĩ đa khoa. Nếu bác sĩ nghi ngờ dạ dày có vấn đề, bệnh nhân có thể được bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa khám bệnh. Sau khi được chẩn đoán mắc bệnh ung thư dạ dày bệnh nhân có thể được chuyển tới bác sĩ chuyên khoa ung thư khám bệnh hoặc bác sĩ ngoại chuyên về phẫu thuật tiêu hóa.

Bởi vì các cuộc hẹn khám bệnh có thể ít thời gian, và bởi vì thường có rất nhiều vấn đề phải tìm hiểu, do đó phải chuẩn bị tốt cho cuộc hẹn. Dưới đây là một số thông tin để bệnh nhân chuẩn bị cho cuộc hẹn khám bệnh, và những điều bác sĩ cần.

Những gì bệnh nhân cần làm

→ Hiểu các yêu cầu hạn chế trước khi khám bệnh. Khi hẹn khám bệnh, bệnh nhân cần hỏi xem có phải hạn chế điều gì trước khi khám hay không, ví dụ hạn chế ăn uống trước khi khám.

→ Ghi lại bất kỳ triệu chứng nào bệnh nhân đang gặp phải, cả những triệu chứng có thể không liên quan đến lý do mà bệnh nhân đi khám bệnh.

→ Ghi lại thông tin cá nhân quan trọng, bao gồm các áp lực lớn hoặc các thay đổi trong cuộc sống gần đây.

→ Ghi lại một danh sách tất cả thuốc men, cũng như bất kỳ loại vitamin hay thuốc bổ sung nào mà bệnh nhân đang dùng.

→ Đi cùng người nhà hay bạn bè, nếu được. Đôi khi khó nhớ tất cả các thông tin trong khi khám bệnh. Người đi cùng có thể nhớ một cái gì đó mà bệnh nhân không nhớ.

→ Ghi lại các câu hỏi để hỏi bác sĩ.

Thời gian với bác sĩ có hạn chế, do đó, việc chuẩn bị một danh sách các câu hỏi này sẽ giúp bệnh nhân tận dụng tối đa thời gian. Danh sách các câu hỏi sắp xép từ quan trọng nhất đến ít quan trọng nhất đề phòng hết thời gian. Đối với bệnh ung thư dạ dày, một số câu hỏi cơ bản để hỏi bác sĩ bao gồm:

→ Tôi bị mắc bệnh ung thư dạ dày loại nào?

→ Mức độ giai đoạn ung thư dạ dày?

→ Tôi cần các xét nghiệm nào?

→ Lựa chọn cách điều trị của tôi là gì?

→ Làm thế nào để điều trị thành công?

→ Lợi ích và rủi ro cho mỗi cách điều trị?

→ Cách điều trị nào mà bác sĩ thấy là tốt nhất cho tôi?

→ Việc điều trị sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống của tôi như thế nào? Tôi có thể tiếp tục làm việc đươc không?

→ Tôi có nên hỏi ý kiến một người nữa không? Chi phí bao nhiêu, và bảo hiểm có chi trả không?

→ Tôi cần đọc những tài liệu nào? Cần xem những trang web nào?

→ Ngoài những câu hỏi đã chuẩn bị sẵn, đừng ngần ngại đặt câu hỏi trong suốt thời gian khám bệnh vào bất cứ lúc nào thấy không rõ.

4. Các xét nghiệm và chẩn đoán

Các xét nghiệm và quy trình sử dụng để chẩn đoán ung thư dạ dày bao gồm:

→ Một máy quay nhỏ để xem bên trong dạ dày của bạn (nội soi). Một ống mỏng chứa một máy quay nhỏ là luồn qua cổ họng vào dạ dày bệnh nhân. Bác sĩ có thể tìm những dấu hiệu của bệnh ung thư. Nếu thấy khu vực nào đáng ngờ, có thể lấy một mảnh mô để phân tích (sinh thiết).

→ Chẩn đoán hình ảnh. Chẩn đoán hình ảnh được sử dụng để tìm bệnh ung thư dạ dày bao gồm Chụp Cắt Lớp vi tính (CT) và một loại chụp X-quang đặc biệt đôi khi được gọi là nuốt Bari (chụp cản quang).

Xác định mức độ (giai đoạn) của bệnh ung thư dạ dày

Các giai đoạn bệnh ung thư dạ dày sẽ giúp bác sĩ quyết định cách điều trị tốt nhất cho bệnh nhân. Các xét nghiệm và thủ thuật được sử dụng để xác định giai đoạn của bệnh ung thư bao gồm:

→ Chẩn đoán hình ảnh. Bao gồm Chụp CT, Chụp Cắt Lớp Phát Xạ Positron (PET) và X-quang.

→ Phẫu thuật thăm dò. Bác sĩ có thể khuyên bệnh nhân phẫu thuật để tìm những dấu hiệu cho thấy ung thư đã lan ra khỏi dạ dày trong ổ bụng. Phẫu thuật thăm dò thường được thực hiện qua nội soi ổ bụng. Nghĩa là bác sĩ phẫu thuật rạch một vài vết mổ nhỏ ở bụng và đưa một máy quay đặc biệt để truyền hình ảnh ra màn hình trong phòng mổ.

; Các xét nghiệm khác có thể được sử dụng, tuỳ thuộc vào tình hình của bạn.

Các giai đoạn của bệnh ung thư dạ dày

Các giai đoạn của ung thư dạ dày adenocarcinoma bao gồm:

→ Giai đoạn I. Ở giai đoạn này, khối u được giới hạn trong các lớp mô nằm bên trong dạ dày. Các tế bào ung thư cũng có thể lây lan sang các hạch bạch huyết lân cận.

→ Giai đoạn II. Bệnh ung thư ở giai đoạn này đã lây lan sâu hơn, phát triển vào lớp cơ thành dạ dày. Ung thư cũng có thể lây lan sang các hạch bạch huyết.

→ Giai đoạn III. Ở giai đoạn này, bệnh ung thư có thể đã phát triển qua tất cả các lớp của dạ dày. Hoặc có thể ung thư nhỏ hơn nhưng đã lan rộng hơn đến các hạch bạch huyết.

→ Giai đoạn IV. Giai đoạn này của ung thư dạ dày lan rộng ngoài dạ dày, phát triển vào các tổ chức lân cận. Hoặc một ung thư nhỏ hơn nhưng đã lan rộng đến các vùng xa của cơ thể.

5. Phương pháp điều trị và thuốc

Lựa chọn cách điều trị cho bệnh ung thư dạ dày phụ thuộc vào giai đoạn của bệnh, sức khỏe tổng quát, và sở thích của bệnh nhân. Điều trị cho ung thư adenocarcinoma có thể bao gồm:

Phẫu thuật

Mục tiêu của phẫu thuật là để loại bỏ tất cả ung thư dạ dày đến ranh giới mô lành, nếu được. Các lựa chọn bao gồm:

→ Cắt bỏ khối u giai đoạn đầu từ lớp lót dạ dày. Ung thư rất nhỏ chỉ giới hạn trong lớp lót bên trong dạ dày có thể được cắt bỏ qua nội soi. Nội soi là một ống thắp sáng với một máy quay luồn từ cổ họng xuống dạ dày. Bác sĩ dùng công cụ đặc biệt để cắt bỏ ung thư tới mô lành.

→ Cắt bỏ một phần dạ dày – cắt dạ dày bán phần (subtotal gastrectomy). Trong cắt dạ dày bán phần, bác sĩ phẫu thuật chỉ cắt bỏ phần dạ dày bị ung thư.

→ Cắt bỏ dạ dày toàn bộ - cắt dạ dày toàn phần (total gastrectomy). Cắt dạ dày toàn phần bao gồm việc cắt bỏ toàn bộ dạ dày và một số mô xung quanh. Thực quản sau đó được nối trực tiếp với ruột non cho phép thực phẩm di chuyển qua hệ tiêu hóa.

→ Cắt bỏ các hạch bạch huyết để tìm ung thư. Các bác sĩ phẫu thuật kiểm tra và cắt bỏ các hạch bạch huyết ở ổ bụng để tìm các tế bào ung thư.

→ Phẫu thuật để làm giảm các dấu hiệu và triệu chứng. Cắt bỏ một phần dạ dày có thể giảm các dấu hiệu và triệu chứng của một khối u đang phát triển ở những người mắc ung thư dạ dày giai đoạn muộn. Trong trường hợp này, phẫu thuật không thể chữa khỏi ung thư dạ dày, nhưng có thể làm cho bệnh nhân thoải mái hơn.

Phẫu thuật có nguy cơ chảy máu và nhiễm trùng. Nếu cắt tất cả hay một phần dạ dày, bệnh nhân có thể gặp vấn đề về tiêu hóa như tiêu chảy, nôn mửa và hội chứng dumping, xảy ra khi thức ăn chưa tiêu hóa bị tống quá nhanh vào ruột non.

Xạ trị

Xạ trị sử dụng chùm tia năng lượng cao để diệt các tế bào ung thư. Các chùm tia năng lượng phát ra từ một máy di chuyển xung quanh bệnh nhân khi nằm trên bàn. Bức xạ trị liệu có thể được sử dụng trước khi phẫu thuật (neoadjuvant radiation) để thu nhỏ một khối u dạ dày vì vậy cắt bỏ dễ dàng. Bức xạ trị liệu cũng có thể được sử dụng sau khi giải phẫu (adjuvant radiation) để tiêu diệt bất kỳ tế bào ung thư có thể vẫn còn xung quanh dạ dày.

Bức xạ thường được kết hợp với hóa trị. Trong trường hợp ung thư giai đoạn muộn, xạ trị có thể được sử dụng để làm giảm tác dụng phụ gây ra do khối u lớn. Xạ trị dạ dày có thể gây tiêu chảy, khó tiêu, buồn nôn và ói mửa.

Hóa trị

Hóa trị là một điều trị bằng thuốc sử dụng hóa chất để diệt các tế bào ung thư. Thuốc hóa trị liệu, đi khắp cơ thể, giết chết tế bào ung thư có thể đã lan rộng ra khỏi dạ dày.

Hóa trị có thể được đưa ra trước khi phẫu thuật (neoadjuvant chemotherapy) để giúp thu nhỏ một khối u do đó có thể cắt bỏ dễ dàng. Hóa trị liệu cũng được sử dụng sau khi giải phẫu (adjuvant chemotherapy) để tiêu diệt bất kỳ tế bào ung thư có thể vẫn còn trong cơ thể.

Hóa trị thường được kết hợp với xạ trị. Hóa trị có thể được sử dụng một mình trong những người bị ung thư dạ dày giai đoạn muộn để giúp giảm các dấu hiệu và triệu chứng. Các phản ứng phụ của hóa trị phụ thuộc vào loại thuốc được sử dụng. Loại ung thư dạ dày quyết định loại thuốc hóa trị mà bệnh nhân sẽ dùng.

Thử nghiệm lâm sàng

Thử nghiệm lâm sàng đang nghiên cứu về phương pháp trị liệu mới và cách thức mới để sử dụng các phương pháp trị liệu hiện có. Tham gia vào một thử nghiệm lâm sàng có thể cho bệnh nhân một cơ hội để thử các phương pháp trị liệu mới nhất. Nhưng thử nghiệm lâm sàng không thể bảo đảm là chữa khỏi bệnh. Trong một số trường hợp, các nhà nghiên cứu có thể không chắc chắn về một số tác dụng phụ của việc điều trị mới.

Hãy hỏi bác sĩ xem có đủ điều kiện cho một thử nghiệm lâm sàng. Cùng thể thảo luận về những lợi ích và rủi ro.

6. Đối phó và hỗ trợ

Một chẩn đoán mắc bệnh ung thư có thể gây sợ hãi. Một khi bệnh nhân bắt đầu điều chỉnh sau khi sốc ban đầu do chẩn đoán, tập trung vào những công việc giúp bệnh nhân đối phó với bệnh tật. Ví dụ, hãy thử:

→ Tìm hiểu về mọi thứ có thể về ung thư dạ dày. Hỏi bác sĩ và ghi chép chi tiết của bệnh ung thư - các loại ung thư, giai đoạn và các lựa chọn điều trị. Tìm thêm thông tin về bệnh ung thư dạ dày và những lợi ích và những rủi ro của từng lựa chọn điều trị.

→ Cùng tham gia vào các quyết định điều trị. Đóng vai trò tích cực trong các quyết định điều trị bệnh. Thảo luận về mối quan tâm và sở thích đối với phương pháp trị liệu với bác sĩ. Cùng quyết định phương pháp nào là điều trị tốt nhất. Mặc dù có thể cảm thấy mệt mỏi và chán nản, không nên để cho người khác - kể cả gia đình hay bác sĩ – đưa ra những quyết định quan trọng thay cho mình.

→ Trao đổi với những người mắc bệnh ung thư khác. Đôi khi có cảm giác những người không có bệnh ung thư không thể hiểu những gì bệnh nhân đang trải qua. Lúc đó, sự hỗ trợ của bệnh nhân ung thư khác có thể có ích. Hãy hỏi bác sĩ về các nhóm hỗ trợ trong khu vực của bạn. Bệnh nhân có thể thấy sự thân thiết sâu sắc và lâu dài với những người đang trải qua những điều tương tự.

→ Đặt mục tiêu hợp lý. Có mục tiêu sẽ bệnh nhân cảm thấy trong vòng kiểm soát và cho bệnh nhân một mục đích sống. Nhưng đừng chọn mục tiêu cao quá không thể đạt được. Ví dụ, có thể không thể làm việc 40 giờ một tuần, nhưng có thể làm việc bán thời gian. Trong thực tế, nhiều người thấy rằng tiếp tục làm việc có thể có ích.

→ Hãy dành thời gian cho chính mình. Ăn uống tốt, thư giãn và nghỉ ngơi đầy đủ có thể giúp chống lại sự căng thẳng và mệt mỏi của bệnh ung thư. Ngoài ra, lên kế hoạch trước khi mà cần nghỉ ngơi nhiều hơn hoặc giới hạn những điều cần làm.

→ Sống năng động. Được chẩn đoán mắc bệnh ung thư không có nghĩa là phải ngừng làm những điều thích hay những gì bình thường vẫn làm. Nếu cảm thấy đủ khỏe để làm điều gì đó, hãy tiến hành làm. Tham gia càng nhiều càng tốt.

7. Phòng bệnh

Vì không rõ nguyên nhân gây bệnh ung thư dạ dày, do đó, không có cách nào để phòng bệnh. Nhưng có thể thực hiện các bước để giảm nguy cơ ung thư dạ dày bằng cách thực hiện các thay đổi nhỏ đến cuộc sống hàng ngày. Ví dụ, hãy thử:

→ Ăn nhiều trái cây và rau. Hãy cố gắng kết hợp nhiều trái cây và rau vào chế độ ăn uống mỗi ngày. Chọn nhiều trái cây và rau nhiều màu sắc.

→ Giảm ăn thực phẩm mặn và hun khói. Bảo vệ dạ dày bằng cách hạn chế những loại thực phẩm này. Thử dùng các loại thảo mộc và những vị thực phẩm khác mà không thêm natri.

→ Ngưng hút thuốc lá. Nếu hút thuốc, hãy bỏ thuốc lá. Hút thuốc làm tăng nguy cơ ung thư dạ dày, cũng như các loại ung thư khác. Bỏ hút thuốc có thể rất khó khăn, nên hỏi bác sĩ để được giúp đỡ.

→ Hãy hỏi bác sĩ về nguy cơ bị ung thư dạ dày. Một số tình trạng bệnh lí làm tăng nguy cơ ung thư dạ dày, chẳng hạn như thiếu máu, viêm dạ dày và polyp dạ dày. Nếu đã được chẩn đoán mắc các bệnh này, hãy hỏi bác sĩ bệnh này ảnh hưởng đến nguy cơ ung thư dạ dày như thế nào. Có thể xem xét nội soi định kỳ để tìm những dấu hiệu của bệnh ung thư dạ dày. Trong một số trường hợp, quý vị và bác sĩ có thể quyết định rằng tầm soát bệnh có lợi ích hơn so với những rủi ro có thể xảy ra.

Nguồn: Mayo Clinic (www.mayoclinic.com)

Tải xuống bản pdf đầy đủ →