|
Ung thư biểu mô của đầu và cổ xuất phát từ bề
mặt các niêm mạc trong khu vực đầu và cổ và thường có nguồn gốc là tế
bào gai. Các thể này bao gồm khối u của
xoang cạnh mũi, khoang miệng, và vòm, khẩu hầu, hạ hầu, và thanh quản.
Khối u của tuyến nước bọt thì khác biệt với
ung thư đầu và cổ thông thường về mặt sinh bệnh học, mô bệnh học, biểu
hiện lâm sàng, và điều trị. U ác tính tuyến giáp được mô tả ở bài khác.
TẦN SUẤT VÀ DỊCH TỄ HỌC
Năm 2004 tại Hoa Kỳ có tổng cộng 38,350 trường
hợp mới mắc ung thư đầu cổ, chiếm 3% trong tổng số ung thư ác tính ở
người lớn. Hàng năm hơn nửa triệu người bị mắc bệnh trên toàn thế giới.
Tại Bắc Mỹ và Châu Âu, khối u thường xuất phát từ khoang miệng, khẩu hầu
hoặc thanh quản trong khi ung thư vòm thường gặp ở các nước vùng Địa
Trung Hải và Viễn Đông.
SINH BỆNH HỌC VÀ DI TRUYỀN HỌC
Sử dụng rượu và thuốc lá là yếu tố nguy cơ phổ
biến nhất đối với ung thư đầu và cổ ở Hoa Kỳ. Thuốc lá không khói là một
tác nhân gây ung thư miệng. Các yếu tố gây ung thư khác bao gồm cần sa
và tiếp xúc do bệnh nghề nghiệp như sản xuất tinh chế niken, tiếp xúc
với sợi dệt, và gỗ.
Thức ăn có thể là yếu tố gây bệnh. Tỷ lệ ung
thư cao ở những người dùng ít trái cây và rau xanh. Một số vitamin, bao
gồm caroten, có thể phòng bệnh; retinoid đang được dùng thử trong phòng
bệnh.
Một số ung thư đầu cổ có nguyên nhân do vi-rút.
Đã tìm thấy ADN của vi-rút gây u nhú (papillomavirus) ở người ở trong
các mô ung thư miệng và hầu và có thể dẫn đến ung thư miệng cho dù không
dùng rượu và thuốc lá. Nhiễm vi-rút Epstein-Barr (EBV) kéo theo ung thư
vòm. Ung thư vòm xảy ra cục bộ ở một số nước vùng Địa Trung Hải và Viễn
Đông, nơi mà có thể đo hàm lượng kháng thể EBV để tầm soát quần thể nguy
cơ cao này. Ung thư vòm cũng liên quan đến việc tiêu thụ cá ướp muối.
Không xác định được các yếu tố nguy cơ và yếu
tố gây ung thư do môi trường đối với ung thư tuyến nước bọt.
MÔ BỆNH HỌC, SINH UNG THƯ VÀ SINH HỌC PHÂN TỬ
Ung thư đầu cổ tế bào gai có thể phân chia
thành thể biệt hóa nhiều, biệt hóa trung bình và thể ít biệt hóa. Bệnh
nhân có khối u thể ít biệt hóa thì có tiên lượng xấu hơn so với thể biệt
hóa nhiều. Đối với ung thư vòm, ung thư tế bào gai ít biệt hóa hơn khác
với ung thư không sừng hóa và không biệt hóa (u biểu mô limphô), có thâm
nhiễm (từ bên ngoài) các tế bào lymphô.
Khối u tuyến nước bọt có thể xuất phát từ
tuyến nước bọt lớn (tuyến mang tai, tuyến dưới hàm, tuyến dưới lưỡi)
hoặc tuyến nước bọt nhỏ (nằm ở lớp dưới niêm mạc của đường tiêu hóa trên).
Hầu hết khối u tuyến mang tai là lành tính, nhưng một nửa khối u tuyến
dưới hàm và tuyến dưới lưỡi và hầu hết khối u tuyến nước bọt nhỏ là ác
tính. Các khối u ác tính bao gồm ung thư biểu mô dạng nhày, ung thư nang
tuyến và ung thư tuyến.
Bề mặt niêm mạc nhày của toàn bộ vòm họng bị
tiếp xúc trực tiếp với các yếu tố gây ung thư liên quan đến thuốc lá và
rượu, và có nguy cơ gây tổn thương tiền ác tính và ác tính như bợn đỏ -
erythroplakia, mảng trắng - leukoplakia (tăng sản – hyperplasia, loạn
sản – dysplasia), mà nó có thể tiến triển thành ung thư xâm lấn. Ngoài
ra có thể mắc nhiều ung thư cùng loại hoặc khác loại. Trong thực tế,
bệnh nhân ung thư đầu cổ ở giai đoạn đầu có nguy cơ tử vong do mắc ung
thư ác tính khác cao hơn so với tử vong do ung thư nguyên phát tái phát.
Ung thư khác ở đầu cổ không phải do điều trị
gây ra. Đó là do việc tiếp xúc của niêm mạc đường tiêu hóa trên với cùng
một tác nhân gây ung thư ban đầu. Ung thư nguyên phát khác có thể ở đầu,
cổ, phổi và thực quản.
Đã xác định được sự xóa mã và đột biến nhiễm
sắc thể, thường liên quan đến nhiễm sắc thể 3p, 9p, 17p, và 13p, trong
cả tổn thương tiền ác tính và ác tính, cũng như đột biến ở gen áp chế
khối u, phổ biến ở gen p53. Sự tăng cường gen gây ung thư thường ít phổ
biến hơn, nhưng đã thấy sự biểu hiện quá mức của PRAD-1 / BCL-1 (cyclin
D1), BC1-2, và yếu tố biến đổi tăng trưởng β và thụ thể phát triển biểu
mô. Những phát hiện sau này liên quan mật thiết đến kích thước u và kết
quả thấp và là mục tiêu đối với các phương pháp điều trị thử nghiệm.
Mẫu khối u đã được cắt bỏ có kết quả mô bệnh
học âm tính ở rìa (“cắt bỏ hoàn toàn”) có thể không phát hiện ra đột
biến gen p53 ở rìa trên các tế bào còn sót lại. Vì vậy, đột biến gen p53
đặc trưng của khối u là đột biến kiểu hình (phenotypical) có thể phát
hiện ở rìa khối u đã phẫu thuật, thể hiện bệnh vẫn còn. Những bệnh nhân
có biểu hiện ở rìa thấy trên kính hiển vi điện tử thì có tiên lượng xấu
hơn so với bệnh nhân có rìa âm tính.
TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG VÀ CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT
Hầu hết ung thư đầu cổ xảy ra ở lứa tuổi trên
50, mặc dù có thể xuất hiện trên những bệnh nhân trẻ và không có mang
yếu tố nguy cơ. Biểu hiện thay đổi tùy vào vị trí và giai đoạn của khối
u. Các bệnh nhân không có các dấu hiệu hay triệu chứng đặc hiệu nên khám
tai mũi họng toàn bộ để đánh giá nếu các triệu chứng kéo dài trên 2-4
tuần.
Ung thư vòm điển hình thì không gây ra các
triệu chứng sớm. Tuy nhiên, nó có thể gây viêm một bên tai giữa nặng do
tắc vòi nhĩ, tắc mũi một hoặc hai bên, hoặc chảy máu cam. Ung thư vòm
giai đoạn muộn gây ra bệnh thần kinh của các dây thần kinh sọ.
Ung thư khoang miệng biểu hiện các vết loét
khó liền, biến đổi hàm răng và đau. Các khối u ở gốc lưỡi hoặc miệng hầu
có thể gây ra giảm vận động của lưỡi và phát âm khó. Ung thư ở miệng hầu
và hạ hầu hiếm khi có triệu chứng sớm nhưng có thể gây đau họng hoặc đau
tai.
Khàn giọng có thể là triệu chứng sớm của ung
thư thanh quản, và nên khám chuyên khoa nếu khàn giọng dai dẳng bằng soi
thanh quản và chụp X quang. Nếu các tổn thương đầu và cổ được điều trị
ban đầu bằng kháng sinh không khỏi trong một thời gian ngắn thì nên tiến
hành khám tiếp thay vì tiếp tục điều trị bằng kháng sinh bởi vì có thể
mất cơ hội chẩn đoán sớm một bệnh ác tính.
Ung thư đầu cổ giai đoạn muộn ở bất cứ vị trí
nào cũng có thể gây đau nặng, đau tai, tắc nghẽn đường thở, bệnh thần
kinh sọ, cứng khít hàm, nuốt đau, khó nuốt, giảm vận động lưỡi, rò, các
biểu hiện ở da, rất nhiều hạch bạch huyết cổ, có thể một bên hoặc cả hai
bên. Một vài bệnh nhân có các hạch bạch huyết phì đại, mặc dù không phát
hiện được các tổn thương nguyên phát qua nội soi hoặc sinh thiết; những
bệnh nhân này được chẩn đoán là ung thư không rõ nguyên phát (Hình
74-1). Nếu các hạch phì đại có ở vị trí trên cổ, và khối u là tế bào gai
trên kết quả mô học, thì bệnh ác tính có thể xuất phát từ niêm mạc đầu
và cổ. Tế bào khối u trong các hạch bạch huyết vùng trên xương đòn cũng
có thể phát sinh từ tổn thương nguyên phát ở ngực hoặc ở bụng.
Khám bệnh nên kiểm tra tất cả bề mặt các niêm
mạc có thể quan sát được và sờ nắn nền miệng, lưỡi, và ở cổ. Ngoài khối
u, có thể thấy mảng trắng - leukoplakia, một mảng niêm mạc trắng, hoặc
bợn đỏ - erythroplakia, một mảng niêm mạc đỏ; những tổn thương “tiền ác
tính” này có thể do tăng sản (hyperplasia), loạn sản (dysplasia) hoặc
ung thư tại chỗ. Nên sinh thiết toàn bộ các tổn thương sờ nắn được hoặc
quan sát được. Nên tiếp tục khám bệnh bởi bác sỹ chuyên khoa. Các xét
nghiệm bổ xung bao gồm chụp cắt lớp điện toán (CT) đầu cổ để xác định
mức độ xâm lấn của bệnh. Những bệnh nhân có hạch bạch huyết thì nên chụp
X quang phổi hoặc chụp xương để truy tầm di căn ung thư từ xa. Chẩn đoán
xác định giai đoạn bằng nội soi dưới gây mê, bao gồm soi thanh quản, soi
thực quản và soi phế quản, trong quá trình nội soi, sinh thiết nhiều mẫu
để chẩn đoán sơ bộ, xác định mức độ phát triển bệnh nguyên phát, và xác
định bất cứ các tổn thương tiền ác tính nào hoặc các tổn thương nguyên
phát khác.
Các khối u đầu cổ được phân loại theo hệ thống
TNM của Ủy ban phối hợp về Ung thư Hoa Kỳ (American Joint Committee on
Cancer). Phân loại này thay đổi theo vị trí giải phẫu đặc trưng (Bảng
74-1 và 74-2). Chẩn đoán ban đầu thì phát hiện di căn xa dưới 10% nhưng
khi giải phẫu tử thi hàng loạt thì hay gặp hơn các tổn thương vi mô trên
phổi, xương hoặc gan, đặc biệt trên các bệnh nhân hạch bạch huyết giai
đoạn muộn.
Ở các bệnh nhân có hạch và không rõ nguyên
phát, chẩn đoán dựa vào cắt bỏ hạch. Nếu kết quả là ung thư tế bào gai,
nên nội soi toàn bộ và sinh thiết toàn bộ các khu vực nghi ngờ và sinh
thiết trực tiếp tại các vị trí ung thư nguyên phát hay gặp chẳng hạn như
mũi hầu, amidan, gốc lưỡi, và xoang lê (pyriform sinus).


ĐIỀU TRỊ
Bệnh nhân ung thư đầu cổ có thể được phân loại
thành ba nhóm lâm sàng: bệnh tại chỗ, bệnh tại chỗ hoặc một vùng ở giai
đoạn muộn, và bệnh tái phát và/hoặc di căn. Các bệnh cộng sinh kèm theo
việc lạm dụng thuốc lá và rượu có thể
ảnh hưởng đến kết quả điều trị.
Bệnh tại chỗ
Gần một phần ba bệnh nhân ở nhóm này, nghĩa là,
tổn thương ở T1 hoặc T2 (giai đoạn I hoặc giai đoạn II) mà không có kèm
theo hạch bạch huyết hoặc di căn xa. Các tổn thương này được chữa bằng
phẫu thuật hoặc xạ trị. Lựa chọn phương pháp điều trị khác nhau phụ
thuộc vào trình độ chuyên môn. Thường dùng xạ trị trong ung thư thanh
quản để bảo tồn chức năng phát âm, ưu tiên phẫu thuật cho các tổn thương
nhỏ ở khoang miệng để tránh những biến chứng bức xạ lâu dài, như khô
miệng, và sâu răng. Nhìn chung tỷ lệ sống 5 năm là từ 60-90%.
Bệnh tại chỗ hoặc một vùng ở giai đoạn muộn
Bệnh tại chỗ hoặc một vùng ở giai đoạn muộn –
bệnh có khối u nguyên phát lớn và/hoặc có di căn hạch bạch huyết – cũng
có thể điều trị với mục đích chữa bệnh, nhưng không phải bằng phương
pháp phẫu thuật hay xạ trị đơn độc. Kết hợp các phương thức điều trị bao
gồm phẫu thuật, xạ trị, và hóa trị là thành công nhất. Dùng đồng thời
hóa trị liệu và xạ trị dường như có hiệu quả điều trị nhất.
HÓA TRỊ
Trong chiến lược này, bệnh nhân được hóa trị [thường
cisplatin và fluorouracil (5FU)] trước khi phẫu thuật và xạ trị. Hầu hết
các bệnh nhân điều trị ba đợt thể hiện khối u giảm, và đáp ứng lâm sàng
là "hoàn toàn" trong một nửa bệnh nhân. Liệu pháp đa hóa trị “theo tuần
tự” này không chữa khỏi bệnh hơn so với phẫu thuật cộng với xạ trị đơn
thuần. Tuy nhiên, hóa trị liệu cho phép bệnh nhân bảo tồn các cơ quan
trong bệnh ung thư thanh quản và hạ hầu.
HÓA XẠ TRỊ PHỐI HỢP
Với chiến lược phối hợp, dùng hóa trị và xạ
trị đồng thời chứ không theo tuần tự. Bởi vì hầu hết bệnh nhân ung thư
đầu cổ đều tái phát bệnh tại vùng đầu và cổ, phương pháp này là nhằm
giết chết tế bào ung thư kháng xạ trị bằng hóa trị liệu. Ngoài ra, hóa
trị liệu có thể tăng khả năng giết tế bào của xạ trị. Hóa trị phối hợp
làm tăng nhiễm độc (viêm niêm mạc - mucositis), tuy nhiên, kết quả phân
tích các thử nghiệm ngẫu nhiên cho thấy tỷ lệ sống 5 năm tăng 8% với
điều trị đồng thời bằng 5FU và xạ trị. Dùng 5FU và cisplatin cùng xạ trị
dường như có kết quả tốt hơn. Tỷ lệ sống 5 năm từ 34-50%. Ngoài ra, hóa
xạ trị phối hợp cho phép bệnh nhân sống lâu hơn khi không cắt thanh quản
(bảo tồn cơ quan) so với hóa trị ở bệnh nhân có bệnh ung thư thanh quản
giai đoạn muộn. Sử dụng xạ trị phối hợp với cisplatin cải thiện rõ rệt
khả năng sống trên bệnh nhân ung thư vòm giai đoạn muộn. Sự thành công
của hóa xạ trị phối hợp trên bệnh nhân không có chỉ định phẫu thuật đã
dẫn đến những thử nghiệm một phương pháp tương tự ở bệnh nhân đã cắt u
như là điều trị sau phẫu thuật, nhưng kết quả đến nay vẫn chưa thuyết
phục so với xạ trị đơn thuần sau phẫu thuật.
Bệnh tái phát và/hoặc di căn
Trừ trường hợp ngoại lệ, bệnh nhân bị bệnh tái
phát và/hoặc di căn được điều trị nhằm mục đích giảm nhẹ bệnh. Một số
bệnh nhân có thể cần xạ trị tại chỗ hoặc cả khu vực để kiểm soát đau,
nhưng hầu hết các bệnh nhân được hóa trị. Tỷ lệ đáp ứng hóa trị liệu
trung bình chỉ 30-50%; thời gian đáp ứng trung bình chỉ 3 tháng, và thời
gian sống trung bình là 6-8 tháng. Do đó, hóa trị có tác dụng chữa triệu
chứng tạm thời. Thuốc tác dụng đơn thuần bao gồm methotrexate, 5FU,
cisplatin, paclitaxel, và docetaxel. Thường sử dụng phối hợp cisplatin
và 5FU, carboplatin và 5FU, và cisplatin hoặc carboplatin và paclitaxel
hoặc docetaxel.
HÓA TRỊ PHÒNG BỆNH
Carotene và cis-retinoic acid có thể làm thoái
lui bệnh bạch sản (leukoplakia). Tuy nhiên, cis-retinoic acid không làm
giảm tỷ lệ tái phát.
ĐIỀU TRỊ BIẾN CHỨNG
Biến chứng trong điều trị ung thư đầu cổ
thường liên quan đến phạm vi phẫu thuật. Một vài nỗ lực đã được thực
hiện để hạn chế phạm vi phẫu thuật hoặc để thay thế nó với hóa trị và xạ
trị. Các biến chứng cấp tính của xạ trị bao gồm viêm niêm mạc và chứng
khó nuốt. Các biến chứng dài hạn bao gồm khô miệng, mất khẩu vị, giảm
chuyển động lưỡi, bệnh ác tính thứ hai, chứng khó nuốt, và xơ cổ. Các
biến chứng của hóa trị thay đổi theo phác đồ điều trị nhưng thường bao
gồm bệnh cơ và triệt tủy – myelosuppression, viêm nêm mạc, buồn nôn
và ói mửa, và nhiễm độc thận (với cisplatin).
KHỐI U TUYẾN NƯỚC BỌT
Hầu hết các khối u tuyến nước bọt lành tính
được điều trị bằng phẫu thuật cắt bỏ, và những bệnh nhân có khối u tuyến
nước bọt xâm lấn được điều trị bằng phẫu thuật và xạ trị. Bức xạ trung
hòa tử (neutron radiation) có thể có hiệu quả đặc biệt. Các khối u này
có thể tái phát tại chỗ; ung thư nang tuyến (adenoidcystic carcinoma) có
xu hướng tái phát dọc theo dây thần kinh. Di căn xa có thể xảy ra chậm
như từ 1-20 năm sau chẩn đoán ban đầu. Đối với bệnh di căn, điều trị
nhằm mục đích giảm bớt bệnh, thường dùng hóa trị với doxorubicin và/hoặc
cisplatin.
Dịch từ nguyên bản Head and Neck Cancer, Everett E. Vokes, Harrison’s
Principle of Internal Medicine, 16th Edition bởi
healthconsul@gmail.com tại
www.dulichchuabenh.vn
| (Tải xuống bản pdf đầy đủ>>>) |
® Ghi
rõ nguồn "dulichchuabenh.vn" khi phát hành lại thông tin từ website
này dưới mọi hình thức. |