|
|
|
|
|
UNG THƯ VÚ - Marc E. Lippman |
| Ung thư vú là một sự tăng sản ác tính của các tế bào biểu mô
tại ống dẫn sữa hay tiểu thùy vú. Trong năm 2004, khoảng 216.000
trường hợp ung thư vú xâm lấn và 40.000 ca tử vong xảy ra tại
Hoa Kỳ. Biểu mô ác tính của vú là nguyên nhân phổ biến nhất gây
ung thư ở phụ nữ (chưa bao gồm ung thư da), chiếm khoảng một
phần ba của tất cả các bệnh ung thư ở phụ nữ. Nhờ kết quả của
việc cải thiện điều trị và phát hiện sớm, tử vong từ bệnh ung
thư vú đã bắt đầu vào giảm đáng kể tại Hoa Kỳ. Chương này sẽ
không xem xét bệnh lý ác tính hiếm gặp của vú, chẳng hạn như
sarcomas (ung thư mô liên kết) và lymphomas (u lympho bào),
nhưng sẽ tập trung vào ung thư biểu mô. Ung thư vú ở người là
một bệnh theo dòng; một tế bào đơn biến đổi - sản phẩm của một
loạt các đột biến soma hoặc đột biến tế bào gốc - cuối cùng là
có khả năng ác tính. Vì vậy, ung thư vú có thể tồn tại trong
thời gian dài như là một bệnh không xâm lấn hoặc một bệnh có xâm
lấn nhưng không di căn. Lâm sàng phân chia rất khác nhau do các
dữ kiện này. |
| |
| XEM XÉT DI TRUYỀN HỌC |
| |
| Không quá 10% ung thư vú ở người có liên quan trực tiếp đến
đột biến tế bào gốc. Một vài gen có liên quan tới các trường hợp
mang tính gia đình. Hội chứng Li-Fraumeni mang đặc trưng của đột
biến di truyền tại gen áp chế khối u p53, dẫn đến một tỷ lệ gia
tăng của bệnh ung thư vú, sarcoma xương, và các biểu hiện ác
tính khác. Đột biến di truyền tại gen PTEN cũng đã được báo cáo.
Một gen áp chế khối u khác, BRCA-1, đã được xác định tại vị
trí 17q21 của gen trên nhiễm sắc thể; gen này giải mã protein
ngón tay kẽm, và do đó sản phẩm gen có chức năng như một yếu tố
chuyển mã. Gen này xuất hiện tham gia vào việc sửa chữa gen. Phụ
nữ di truyền alen đột biến của gen này từ cha hoặc mẹ sẽ có tối
thiểu 60% đến 80% xác suất mắc ung thư vú và có khoảng 33% xác
suất mắc ung thư buồng trứng. Nguy cơ cao hơn ở những phụ nữ
sinh sau 1940, được cho là do ảnh hưởng của yếu tố hóc-môn. Nam
giới mang alen di truyền của gen này có tỷ lệ gia tăng của ung
thư tiền liệt tuyến và ung thư vú. Gen thứ tư, được gọi là
BRCA-2, nằm tại vị trí nhiễm sắc thể 13q12, cũng có liên quan
đến tỷ lệ gia tăng ung thư vú ở nam giới và nữ giới.
BRCA-1 và BRCA-2 hiện nay có thể xác nhận dễ dàng và phát
hiện ra đột biến tế bào gốc; cần có sự tư vấn thích hợp đối với
những bệnh nhân đột biến này. Tất cả phụ nữ có tiền sử gia đình
bị ung thư vú nên tiến hành chương trình tầm soát di truyền bất
cứ khi nào có thể, đặc biệt ở phụ nữ là hậu duệ dân tộc Do Thái
Ashkenazi là những người có nhiều khả năng bị đột biến gen
BRCA-1 đặc trưng (xóa adenine và guanine tại vị trí 185).
Vai trò của các gen này trong ung thư vú thể di truyền thậm
chí còn quan trọng hơn trong ung thư vú thể nguyên phát. Đột
biến gen p53 hiện chiếm xấp xỉ 40% ung thư vú ở người như là
khiếm khuyết mắc phải. Đột biến mắc phải ở gen PTEN xảy ra
khoảng 10% trong tổng số trường hợp. Đột biến BRCA-1 trong ung
thư vú nguyên phát chưa được tổng kết. Tuy nhiên, việc giảm xuất
hiện BRCA-1 mRNA (có thể xuất hiện qua methyl hóa gen) và vị trí
tế bào bất thường của gen BRCA-1 được phát hiện trong một vài
trường hợp ung thư vú. Mất tính dị hợp tử của BRCA-1 và BRCA-2
cho thấy rằng hoạt động áp chế khối u có thể bị mất tác dụng
trong các trường hợp ung thư vú nguyên phát ở người. Cuối cùng,
gia tăng sự chi phối của một gen gây ung thư đóng một vai trò
trong khoảng một phần tư các trường hợp ung thư vú. Các sản phẩm
của gen này, một thành phần của thụ thể tăng trưởng biểu bì liên
họ, gọi tên là erbB2 (HER-2, neu) và xuất hiện quá mức trong ung
thư vú do sự quá sản gen; sự xuất hiện quá mức này có thể gây ra
sự biến đổi biểu mô vú ở người. |
| |
| DỊCH TỄ HỌC |
| |
| Ung thư vú là một bệnh phụ thuộc hóc-môn. Phụ nữ không có
buồng trứng hoạt động mà không bao giờ điều trị bằng liệu pháp
thay thế estrogen sẽ không mắc ung thư vú. Tỷ lệ giữa phụ nữ và
nam giới là khoảng 150:1. Đối với hầu hết các biểu mô ác tính,
biểu đồ tần xuất mắc bệnh theo tuổi thể hiện một đường thẳng một
thành phần tăng hàng năm. Một biểu đồ ung thư vú tương tự thể
hiện hai thành phần: một đường thẳng tăng theo tuổi nhưng giảm
xuống theo đường dốc khi bắt đầu ở tuổi mãn kinh. Có ba thời
điểm trong cuộc đời người phụ nữ có tác động nhiều đến tần xuất
ung thư vú là khi bắt đầu có kinh nguyệt, giai đoạn đầu của thai
kỳ, và tuổi mãn kinh. Phụ nữ bắt đầu có kinh nguyệt ở tuổi 16
chỉ có khoảng 50 tới 60% nguy cơ ung thư vú so với phụ nữ bắt
đầu có kinh ở tuổi 12; tỷ lệ nguy cơ thấp này tiếp tục trong
suốt cuộc đời. Tương tự như vậy, mãn kinh xảy ra 10 năm trước
tuổi mãn kinh trung bình (52 tuổi), dù tự mãn kinh tự nhiên hay
do phẫu thuật, làm giảm nguy cơ ung thư vú khoảng 35%. Phụ nữ có
thai kỳ đầu tiên vào tuổi 18 chỉ có 30-40% nguy cơ ung thư vú so
với phụ nữ chưa sinh đẻ. Do đó, chiều dài của đời sống kinh
nguyệt, đặc biệt là khoảng thời gian trước thai kỳ đầu tiên
chiếm một phần đáng kể trong tổng nguy cơ ung thư vú. Ba yếu tố
này (tuổi bắt đầu có kinh nguyệt, tuổi khi bắt đầu thai kỳ đầu
tiên, và tuổi mãn kinh) có thể dao động từ 70-80% trong tần xuất
ung thư vú khác nhau ở các nước. Một phân tích sâu cho thấy thời
gian chăm sóc bà mẹ liên quan với việc giảm đáng kể nguy cơ hoặc
độc lập hoặc là phối hợp vối yếu tố tuổi khi bắt đầu thai kỳ đầu
tiên.
Tần xuất mắc bệnh dao động trên thế giới chứng tỏ một vài đầu
mối quan trọng liên quan đến gây ung thư do hóc-môn. Một phụ nữ
sống ở tuổi 80 tại Bắc Mỹ sẽ có xác suất 1 phần 9 bị mắc ung thư
vú. Phụ nữ Á châu có nguy cơ mắc bệnh dao động từ 1/5 đến 1/10
so với phụ nữ Bắc Mỹ và Tây Âu. Phụ nữ Á châu có nồng độ hóc-môn
estrogen và progesterone thấp hơn nhiều. Những sự khác biệt này
không thể giải thích được về mặt di truyền bởi vì phụ nữ Á châu
sống trong một môi trường Tây phương có nồng độ hóc-môn giới
tính và nguy cơ mắc bệnh giống hệt với phụ nữ Tây phương. Những
phụ nữ di dân này và con gái họ cũng có sự khác biệt đáng kể về
chiều cao và cân nặng so với phụ nữ Á châu sống ở châu Á; chiều
cao và cân nặng là những yếu tố quan trọng điều tiết tuổi bắt
đầu có kinh nguyệt và có ảnh hưởng đáng kể trên nồng độ estrogen
trong huyết tương.
Vai trò ăn kiêng trong nguyên nhân gây ung thư vú vẫn còn
tranh cãi. Trong khi có những mối liên quan giữa tổng calo và sử
dụng chất béo và nguy cơ mắc ung thư vú, thì vai trò của chất
béo trong ăn kiêng vẫn chưa được chứng minh. Sử dụng calo nhiều
góp phần vào nguy cơ mắc ung thư vú bằng nhiều cách: bắt đầu có
kinh nguyệt sớm, chậm mãn kinh, và tăng nồng độ estrogen sau mãn
kinh biểu hiện bằng tăng hoạt động hóa vòng thơm tại các mô mỡ.
Sử dụng rượu vừa phải cũng tăng nguy cơ mắc bệnh nhưng chưa rõ
cơ chế. Đề nghị bỏ rượu phải cân nhắc với các áp lực xã hội khác
và tác dụng bảo vệ tim nhờ uống rượu vừa phải.
Hiểu được vai trò tiềm ẩn của hóc-môn ngoại sinh trong ung
thư vú là cực lỳ quan trọng bởi vì hàng triệu phụ nữ Mỹ thường
xuyên sử dụng thuốc ngừa thai đường uống và liệu pháp thay thế
hóc-môn sau mãn kinh (HT). Các phân tích đáng tin cậy nhất về sử
dụng thuốc ngừa thai đường uống cho rằng thuốc ít gây ra ung thư
nếu có bất cứ nguy cơ ưng thư vú nào. Ngược lại, uống thuốc ngừa
thai đường uống có tác động đáng kể chống lại u biểu mô buồng
trứng và ung thư tử cung. Trái ngược hơn là những dữ liệu xung
quanh liệu pháp thay thế hóc-môn sau mãn kinh (HT) ở phụ nữ mãn
kinh. Dữ kiện từ cuộc thử nghiệm của tổ chức Sáng kiến Sức khỏe
Phụ nữ (Women’s Health Initiative - WHI) cho thấy rằng estrogen
ngựa tiếp hợp cộng với progestin tăng nguy cơ ung thư vú và hậu
quả tim mạch, giảm gãy xương và ung thư trực tràng ruột. Thậm
chí còn có kết quả âm tính đối với liệu pháp thay thế hóc-môn
sau mãn kinh (HT). Một thử nghiệm WHI song song với hơn 12.000
phụ nữ ghi danh vào chương trình thử nghiệm một mình estrogens
kết hợp (trong những người phụ nữ đã cắt tử cung) đang được tiếp
tục tiến hành. Một phân tích sâu của liệu pháp thay thế hóc-môn
sau mãn kinh (HT) không ngẫu nhiên cho thấy rằng hầu hết các lợi
ích có trước của liệu pháp thay thế hóc-môn sau mãn kinh (HT )
có thể là do tình trạng kinh tế xã hội cao hơn trong số những
người sử dụng, nghĩa là có điều kiện chăm sóc sức khỏe tốt hơn
và hành vi lành mạnh hơn. Một số lợi ích tiềm năng của với liệu
pháp thay thế hóc-môn sau mãn kinh (HT), chẳng hạn như là một
tác dụng bảo vệ giả định trên nhận thức theo tuổi, không được
đánh giá trong báo cáo của WHI. Liệu pháp thay thế hóc-môn sau
mãn kinh (HT) là một lĩnh vực tái thẩm định nhanh, nhưng nó thể
hiện rằng (ít nhất là từ ưu thế các bệnh ung thư vú và bệnh tim
mạch) có những căn cứ để quan tâm nghiêm túc về việc sử dụng dài
hạn liệu pháp thay thế hóc-môn sau mãn kinh (HT).
Ngoài những yếu tố khác, bức xạ có thể là một yếu tố rủi ro ở
phụ nữ trẻ. Phụ nữ đã tiếp xúc bức xạ trước độ tuổi 30 dưới hình
thức chiếu xạ nhiều lần (200 đến 300 cGy) hoặc điều trị trong
bệnh Hodgkin (>3600 cGy) có một gia tăng nguy cơ đáng kể mắc ung
thư vú, trong khi bức xạ tiếp xúc sau độ tuổi 30 xuất hiện ảnh
hưởng tối thiểu gây ung thư cho vú. |
| |
| TIẾN TRIỂN KHỐI U VÚ Ở NAM VÀ NỮ |
| |
| Bởi vì vú là một vị trí phổ biến của bệnh ác tính gây tử
vong ở phụ nữ và bởi vì vú thường xuyên cung cấp các manh mối
của bệnh hệ thống tiềm tàng ở cả nam và nữ, kiểm tra của vú là
một phần thiết yếu của thăm khám bệnh. Thật không may, bác sỹ
nội khoa thường xuyên không kiểm tra vú ở nam giới, và, ở phụ nữ,
họ có khuynh hướng trì hoãn để cho bác sỹ phụ khoa thăm khám.
Bởi vì sự kết hợp đáng tin cậy giữa phát hiện sớm và kết quả
được cải thiện, trách nhiệm của mỗi bác sĩ là phân biệt với
những bất thường tại vú tại ở giai đoạn sớm nhất có thể và tiến
hành chẩn đoán xác định tiếp tục. Đó là lý do mà tất cả các phụ
nữ nên được đào tạo về tự khám vú (Breast Self Examination -
BSE).Mặc dù bệnh ung thư vú ở nam giới là không bình thường, tổn
thương một bên nên được đánh giá cùng một cách thức cũng như ở
phụ nữ, và phải thừa nhận rằng chứng to vú (gynecomastia) ở nam
giới có thể đôi khi bắt đầu một bên và thường không đối xứng.
Hầu hết các ung thư vú được chẩn đoán bằng cách làm sinh
thiết u qua chụp nhũ ảnh hoặc bằng cách sờ nắn. Một quy trình đã
được phát triển để nâng cao khả năng chẩn đoán ung thư vú và
giảm bớt số lần làm sinh thiết không cần thiết (Hình 76-1). |
| |
 |
| |
| Khối u vú có thể sờ nắn Nên khuyến khích phụ nữ tự khám vú
hàng tháng. Một báo cáo chưa hoàn thiện từ Trung Quốc đề xuất
rằng tự khám vú (BSE) không làm bệnh nhân sống sót, nhưng vì sự
an toàn, quy trình này nên được tiếp tục khuyến khích. Lợi ích
tối thiểu việc thực hành này là khả năng phát hiện một khối u có
kích thước nhỏ khi mà nó có thể được điều trị bằng phẫu thuật
giới hạn.
Bác sỹ nên khám vú trong điều kiện đủ ánh sáng để xem sự co
dãn của da và các thay đổi khác về da. Phải khám núm vú và quầng
vú và nên thử khám sự tiết dịch từ núm vú. Nên khám nhóm hạnh
bạch huyết xung quanh và bất cứ tổn thương nào cũng nên đánh giá.
Trong khi các tổn thương điển hình chắc chắc có nhiều khả năng
ung thư (cứng, không đều, có giới hạn hoặc cố định, hoặc tổn
thương không đau), chỉ khám lâm sàng không loại trừ u ác tính.
Hơn nữa, một kết quả chụp nhũ ảnh âm tính cùng với sự hiện diện
dai dẳng của khối u ở ngực không loại trừ u ác tính.
Trong thời kỳ tiền mãn kinh ở phụ nữ, tổn thương có thể không
rõ rệt hoặc không đáng nghi ngờ thì nên tái sau 2-4 tuần, trong
giai đoạn nang của chu kỳ kinh. Ngày 5 đến 7 của chu kỳ là thời
gian tốt nhất để khám vú. Một u xuất hiện rõ ở phụ nữ sau mãn
kinh hoặc u xuất hiện liên tục trong suốt kỳ kinh ở phụ nữ tiền
mãn kinh thì nên chọc hút sinh thiết bằng kim nhỏ hoặc phẫu
thuật. Nếu dịch lấy ra không có máu và chữa khỏi tổn thương, thì
việc chẩn đoán (u nang) và trị liệu có thể tiến hành cùng lúc.
Tổn thương cứng tồn tại dai dẳng, tái diễn, phức tạp, hoặc u
nang có máu thì nên tiến hành chụp nhũ ảnh và sinh thiết, mặc dù
các bệnh nhân đó được lựa chọn sử dụng kỹ thuật chẩn đoán ba lần
để tránh sinh thiết (sờ nắn, chụp nhũ ảnh vú và chọc hút) (Hình
76-1 đến 76-3). Siêu âm có thể được sử dụng thay thế chọc hút để
phân biệt u nang và khối u cứng. Không phải tất cả các khối u
cứng đều phát hiện được bằng siêu âm; do đó, một khối u sờ nắn
được mà không nhìn thấy trên siêu âm thì coi như là u cứng. |
| |
 |
| |
| Một số điểm rất quan trọng trong quá trình chẩn đoán. Trước
tiên, phân tích các yếu tố nguy cơ không phải là một phần trong
chẩn đoán. Các yếu tố nguy cơ, dù có hay không, cũng không thể
dùng để loại trừ sinh thiết. Thứ hai, chọc hút kim nhỏ chỉ nên
sử dụng tại các trung tâm đã được chứng tỏ kỹ năng trong việc
lấy mẫu và phân tích các mẫu. Mặc dầu khả năng ung thư là thấp
khi có 3 lần âm tính (u cảm giác lành tính, chụp nhũ ảnh âm tính,
và chọc hút kim nhỏ âm tính), nhưng không phải là không có, và
bệnh nhân và bác sỹ phải nhận thức rằng có 1% nguy cơ âm tính
giả. Thứ ba, các kỹ thuật bổ xung như chụp từ trường quang ảnh,
siêu âm, chụp sestamibi không thể dùng để loại trừ sinh thiết,
mặc dù trong một vài tình huống bất thường nó có thể cần sinh
thiết. |
| |
 |
| |
| Chụp nhũ ảnh bất thường Không nên nhầm lẫn giữa chụp nhũ ảnh
chẩn đoán với chụp nhũ ảnh tầm soát, chụp được tiến hành sau khi
phát hiện bất thường khi thăm khám. Chụp nhũ ảnh chẩn đoán nhằm
mục đích đánh giá các phần còn lại của vú trước khi tiến hành
sinh thiết hoặc đôi khi là một phần của kỹ thuật chẩn đoán 3 lần
để loại trừ ngay lập tức sinh thiết.
Những bất thường khó sờ thấy được phát hiện đầu tiên nhờ chụp
nhũ ảnh tầm soát thì nên đánh giá cẩn thận qua quan sát phóng
đại và tập trung. Những bất thường này bao gồm bó calci hóa, đậm
đặc (đặc biệt là nếu có gai), cấu trúc mới hoặc bị méo mó. Đối
với một số tổn thương không phát hiện qua sờ nắn thì siêu âm có
thể hữu ích để nhận dạng nang và hướng dẫn làm sinh thiết. Nếu
không phát hiện tổn thương qua sờ nắn và chụp nhũ ảnh có kết quả
lành tính rõ thì nên theo dõi bệnh nhân thường xuyên tương ứng
với độ tuổi.
Nếu có tổn thương phát hiện trên chụp nhũ ảnh mà sờ nắn không
thấy thì nghi ngờ tương đối thấp, tiếp tục chụp nhũ ảnh theo dõi
trong 3 tới 6 tháng là hợp lý. Chẩn đoán xác định và các tổn
thương nghi ngờ phức tạp thì nên dùng sinh thiết nổi. Morrow và
cộng sự có đề xuất rằng thủ tục này được chỉ định cho những tổn
thương có yêu cầu sinh thiết nhưng cũng có nhiều khả năng là
lành tính – có nghĩa là trong trường hợp đó, thủ tục này sẽ loại
bỏ các cuộc giải phẫu bổ xung. Khi một tổn thương có thể có ác
tính nhiều hơn, nên thực hiện cuộc giải phẫu mở sinh thiết lấy
khối u ra nhờ kỹ thuật định vị bằng kim. Một số khác còn đề xuất
sử dụng rộng rãi hơn sinh thiết nổi bằng kim to cho những tổn
thương không phát hiện khi sờ nắn, về phương diện kinh tế, và vì
chẩn đoán sớm sẽ có kế hoạch điều trị sớm hơn. Tuy nhiên, chẩn
đoán sinh thiết nổi không loại bỏ yêu cầu cho quy trình phẫu
thuật chẩn đoán xác định, đặc biệt nếu muốn bảo tồn vú. Chẳng
hạn, sau khi sinh thiết vú với kim định vị (nghĩa là cắt tại chỗ)
của khối u chẩn đoán ác tính qua sinh thiết nổi, cần thiết phải
cắt lọc tới ranh giới mô lành. Mở rộng ra, vấn đề này được quyết
định dựa trên cơ sở là tính khả dụng và nguồn lực sẵn có của
sinh thiết nổi bằng kim to. Một phương pháp tiếp cận hợp lý được
thể hiển trong Hình. 76-4. |
| |
 |
| |
| Khối u vú ở phụ nữ mang thai và cho con bú Trong thời gian
mang thai, vú phát triển dưới sự ảnh hưởng của estrogen,
progesterone, prolactin, và lactogen nhau thai. Tiết sữa bị ức
chế bởi progesterone, nó ngăn cản tác dụng của prolactin. Sau
khi sinh, sữa tiết ra do giảm nồng độ progesterone, làm tác dụng
của prolactin được giải phóng. Sự phát triển khối u vú trong
thời gian mang thai và cho con bú không bao giờ là do sự thay
đổi hóc-môn, và không bao giờ nên thực hiện sinh thiết bằng gây
tê tại chỗ. Ung thư vú xuất hiện ở 1 trong mỗi 3.000 đến 4.000
phụ nữ mang thai. Tính theo giai đoạn, ung thư vú ở phụ nữ mang
thai không khác gì so với ở phụ nữ tiền mãn kinh và phụ nữ không
mang thai. Tuy nhiên, phụ nữ mang thai thường có bệnh từ trước
do biểu hiện của ung thư vú không được khám một cách đầy đủ. Dựa
trên các kết luận lâm sàng, khối u vú tồn tại dai dẳng ở phụ nữ
mang thai và cho con bú không thể là do các thay đổi lành tính;
những bệnh nhân đó phải được đánh giá chẩn đoán ngay.
Khối u vú lành tính Chỉ có 1 trong mỗi 5 đến 10 ca sinh thiết
vú có chẩn đoán ung thư, mặc dù tỷ lệ sinh thiết duơng tính có
thể thay đổi ở các nước khác nhau. (Những khác biệt này liên
quan tới đọc kết quả, cân nhắc tính pháp lý y học, và sự sẵn có
của chụp nhũ ảnh). Đại đa số u vú lành tính là bệnh “u xơ nang”.
Một thuật ngữ mô tả những u nang nhỏ tràn đầy dịch và tế bào
biểu mô trung bình, và tăng sản mô xơ. Tuy nhiên, bệnh u xơ nang
là bệnh được chẩn đoán bằng mô học chứ không phải chẩn đoán lâm
sàng và phụ nữ đã được sinh thiết chẩn đoán là lành tính sẽ có
tỷ lệ mắc ung thư vú cao hơn so với những phụ nữ chưa làm sinh
thiết. Nhóm phụ nữ có tăng sản tế bào tiểu thùy và ống dẫn sữa (chiếm
khoảng 30% tổng số bệnh nhân), đặc biệt có sự phân mảnh nhỏ (3%)
với sự tăng sản không điển hình, có nguy cơ mắc ung thư vú gấp
bốn lần so với phụ nữ chưa làm sinh thiết, và có nguy cơ gấp
chín lần so với phụ nữ loại này những người có ảnh hưởng tương
đối ở mức độ đầu. Vì vậy, yêu cầu theo dõi chặt chẽ các bệnh
nhân này là bắt buộc. Ngược lại, bệnh nhân có sinh thiết lành
tính mà không có tăng sản không điển hình thì ít có nguy cơ mắc
bệnh và có thể theo dõi định kỳ. |
| |
| TẦM SOÁT |
| |
| Ung thư vú là loại ung thư biểu mô ở người lớn hầu như là
duy nhất (tính theo chụp nhũ ảnh hàng năm) mà tầm soát đã chứng
minh tăng khả năng sống của bệnh nhân. Kết quả phân tích sâu từ
chụp nhũ ảnh ngẫu nhiên thể hiện rằng giảm từ 25 đến 30% nguy cơ
tử vong do ung thư vú bằng việc tầm soát hàng năm sau lứa tuổi
50; dữ liệu đối với phụ nữ tuổi từ 40-50 hầu hết là tích cực.
Trong khi vẫn tiếp tục có những tranh cãi xung quanh việc đánh
giá chụp nhũ ảnh, do kết quả dữ kiện có ưu thế cũng như sự đánh
giá riêng của tác giả, nên tiếp tục ủng hộ những mặt tích cực
trong chụp tuyến vú. Những phân tích mới từ những báo cáo trước
đây ngẫu nhiên đã đề xuất rằng tầm soát không có lợi. Trong khi
những khiếm khuyết trong một vài báo cáo không thể sửa chữa, hầu
hết các chuyên gia, bao gồm cả ban hội chẩn của Hội ung thư học
lâm sàng Hoa kỳ và Hội Ung thư Hoa kỳ tiếp tục tin tưởng rằng
tầm soát có những lợi ích đáng kể. Hơn nữa, sự giảm đáng kể tử
vong trong ung thư vú trong thập kỷ qua không phải duy nhất hoàn
toàn là do sự cải thiện trong điều trị bệnh. Chụp nhũ ảnh hàng
năm dường như là một lời khuyên khôn ngoan đối với phụ nữ sau
tuổi 40. Mặc dù không có bất cứ một nghiên cứu ngẫu nhiên nào về
tự khám vú chứng tỏ giúp sống sót, lợi ích đáng kể là xác định
các khối u thích hợp cho điều trị bảo tồn tại chỗ. Kỹ thuật chụp
nhũ ảnh tốt hơn, bao gồm chụp nhũ ảnh kỹ thuật số, quan sát
phóng thông thường, kỹ năng tốt hơn khi đọc kết quả chụp nhũ ảnh,
kết hợp với các kỹ thuật chẩn đoán mới hơn (từ trường quang ảnh
– MRI, từ trường quang học – MRS, chụp positron cắt lớp – PET...
có khả năng xác định ung thư vú thậm chí chắc chắn hơn và sớm
hơn. |
| |
| GIAI ĐOẠN |
| |
| Chẩn đoán giai đoạn chính xác ung thư vú là cực kỳ quan
trọng. Nó không những cho phép tiên lượng chính xác mà trong
nhiều trường hợp, quyết định điều trị phần lớn là dựa trên phân
loại TNM (Bảng 76-1). Phải thực hiện so sánh cẩn thận với các ca
trong quá khứ, vì đánh giá giai đoạn đã thay đổi nhiều trong
vòng 20 năm qua. |
| |
 |
| |
| ĐIỀU TRỊ |
| |
| UNG THƯ VÚ NGUYÊN PHÁT |
| |
| Một loạt các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên tại Hoa Kỳ và
nước ngoài chỉ ra rằng phương pháp điều trị bảo tồn vú, bao gồm
việc cắt bỏ khối u ban đầu dưới dạng phẫu thuật cắt lọc khối u (lympectomy)
có hoặc không kết hợp chiếu xạ vú, kết quả sống sót tốt như quy
trình mở rộng sau đó, chẳng hạn như phẫu thuật cắt bỏ vú
(mastectomy) hay phẫu thuật cắt bỏ vú triệt căn sửa đổi
(modified radical mastectomy) có hoặc không kết hợp chiếu xạ vú
sau đó. Chiếu xạ sau phẫu thuật cắt lọc khối u làm giảm nhiều
nguy cơ tái phát ở vú. Trong khi bảo tồn vú có khả năng tái phát
ở vú, thì bệnh nhân còn sống ít nhất là 10 năm sau phẫu thuật
cắt bỏ vú triệt căn. Chiếu xạ vào hạch tại chỗ sau phẫu thuật
cắt bỏ vú cũng cải thiện sự sống. Vì xạ trị có thể giảm nguy cơ
tái phát tại chỗ và khu vực, rất nên chiếu xạ sau phẫu thuật cắt
bỏ vú cho bệnh nhân có nguy cơ u nguyên phát cao (chẳng hạn,
kích thước u T2, bờ dương tính, hạch dương tính). Hiện nay,
khoảng 1 phần 3 phụ nữ ở Hoa Kỳ được điều trị phẫu thuật cắt lọc
khối u. Phẫu thuật bảo tồn vú không thích hợp cho mọi bệnh nhân:
nói chung, nó không thích hợp cho bệnh nhân có u lớn hơn 5cm (hoặc
u nhỏ hơn nếu vú nhỏ hơn), khối u ở cả núm vú và quầng vú, khối
u có bệnh trong ống dẫn sữa chiếm nhiều góc phần tư của vú, phụ
nữ có tiền sử bệnh đông máu-tim mạch, phụ nữ hoặc có động cơ bảo
tồn vú hoặc không thích hợp cho xạ trị. Tuy nhiên, nhóm này
không quá 1 phần 3 bệnh nhân điều trị bằng phẫu thuật cắt bỏ vú.
Do đó, rất nhiều phụ nữ vẫn tiến hành phẫn thuật cắt bỏ vú những
người mà có thể bỏ qua quy trình này một cách an toàn nếu được
tư vấn thích hợp.
Thành phần trong ống dẫn sữa lan rộng là một dấu hiệu dự đoán
tái phát tại vú, và thay đổi rất nhiều trên lâm sàng. Sự xuất
hiện các hạch bạch huyết ở nách và mạch máu hay hệ bạch huyết
của khối u di căn ở vú có nguy cơ tái phát cao tại vú nhưng
không chống chỉ định với bảo tồn vú. Loại trừ những bệnh nhân
này, khi phẫu thuật cắt lọc khối u có bờ âm tính, bảo toàn vú có
tỷ lệ tái phát đáng kể ở vú là dưới 10%. Những phụ nữ tái phát ở
vú thì sống sót không cao so với những phụ nữ không có. Vì vậy,
tái phát ở vú là một tiên lượng xấu cho việc sống sót lâu dài.
Tuy vậy, tái phát ở vú không phải là nguyên nhân di căn đi xa.
Nếu tái phát ở vú gây di căn thì những phụ nữ đã phẫu thuật cắt
lọc khối u, người có tỷ lệ tái phát cao hơn, phải sống sót ngắn
hơn so với phụ nữ cắt bỏ vú. Các bệnh nhân nên tham khảo ý kiến
chuyên viên xạ trị trước khi quyết định liệu pháp điều trị tại
chỗ. Tuy nhiên, một hội chẩn lâm sàng đa phương bao gồm phẫu
thuật viên, bác sỹ xạ trị, bác sỹ ung thư, và các nhân viên chăm
sóc để đánh giá bệnh nhân và đưa ra cách điều trị sẽ có lợi ích
lớn cho bệnh nhân.
Điều trị bổ xung Sử dụng liệu pháp điều trị toàn thân sau
điều trị tại chỗ ung thư vú tăng thời gian sống sót. Hơn 1 phần
3 phụ nữ lẽ ra chết vì ung thư vú di căn nhưng đã không còn mắc
bệnh khi điều trị bằng phác đồ toàn thân thích hợp.
CÁC YẾU TỐ TIÊN LƯỢNG Yếu tố tiên lượng quan trọng nhất là
giai đoạn của khối u. Kích thước u và tình trạng hạch bạch huyết
ở nách cho thông tin tương đối chính xác khả năng tái phát. Mối
liên quan giữa giai đoạn bệnh lý và thời gian sống sót 5 năm
được trình bày ở bảng 76-2. Đối với hầu hết các phụ nữ, yêu cầu
điều trị bổ xung có thể được chỉ cần xác định dựa trên cơ sở này.
Trong trường hợp không xuất hiện hạch bạch huyết, sự xuất hiện
của mao mạch trong khối u (hoặc là mao dẫn hoặc là hệ bạch huyết)
thì cũng tương đương với sự xuất hiện của hạch bạch huyết. Có
nhiều tranh cãi về tiên lượng gần ở phụ nữ. Rất hiếm khi là
chính đáng để điều trị bổ xung ở bệnh nhân có khối u < 1cm mà
hạch bạch huyết ở nách âm tính. Sự phát triển sôi động nhất
trong lĩnh vực này là việc sử dụng sắp xếp dãy gen để phân tích
các đặc tính của gen khối u. |
| |
 |
| |
| Một số yếu tố tiên lượng khác được nhìn nhận, và dường như
có ảnh hưởng đến thời gian khỏi bệnh và thời gian sống sót. Điều
chưa rõ ràng là liệu nó có bổ xung thêm thông tin từ giai đoạn
bệnh lý không.
Tình trạng thụ thể estrogen và progesterone là dấu hiệu tiên
lượng quan trọng. Khối u thiếu một hoặc cả hai thụ thể này thì
hay tái phát hơn so với khối u có đủ thụ thể.
Một số đo lường tỷ lệ phát triển khối u có liên quan đến tái
phát sớm. Phân tích giai đoạn S sử dụng đếm tế bào là thước đo
chính xác nhất. Đánh giá giai đoạn S gián tiếp sử dụng kháng
nguyên kết hợp với chu kỳ tế bào, chẳng hạn như PCNA (Ki67),
cũng có giá trị. Một số nghiên cứu đề xuất rằng khối u có tỷ lệ
cao (hơn trung bình) tế bào trong giai đoạn S thì có nguy cơ tái
phát cao và hóa trị có lợi ích tăng thời gian sống sót đối với
những khối u này. Vì lý do này, một số nhà lâm sàng học sử dụng
sự đánh giá giai đoạn S như là một yếu tố quyết định để xây dựng
liệu pháp điều trị bổ xung khi mà các đặc tính bệnh lý không rõ
ràng. Đánh giá cấu trúc ADN dưới dạng bội thể có giá trị vừa
phải, với những khối u không phải thể lưỡng bội thì tiên lượng
xấu hơn.
Phân loại mô học của khối u cũng là một yếu tố tiên lượng.
Khối u có loại nhân xấu thì có nguy cơ tái phát cao hơn so với
khối u có loại nhân tốt. Phương pháp đo lường bán định lượng như
bảng điểm Elston cải thiện khả năng của phương pháp này.
Thay đổi phân tử trong khối u cũng có giá trị. Khối u xuất
hiện quá nhiều erbB2 (HER-2/neu) hoặc có gen đột biến p53 thì có
tiên lượng xấu hơn. Đặc biệt chú trọng đến sự xuất hiện quá
nhiều erbB2 được đo bằng phương pháp mô hóa học hoặc bằng nhuộm
miễn dịch huỳnh quang. Theo kinh nghiệm thì một trong hai phương
pháp đều chấp nhận được. Khối u xuất hiện nhiều erbB2 thì đáp
ứng liều cao tốt hơn trong phác đồ điều trị có doxorubicin. Vì
lý do này, erbB2 thường có giá trị như là một phương thức quyết
định liệu pháp điều trị. Kết quả các cuộc thử nghiệm điều trị tá
dược đang được tiến hành để đánh giá vai trò của kháng thể
HER-2/neu đơn dòng (trastuzumab) vẫn còn được quan tâm chờ đợi.
Để phát triển, khối u phải tạo ra hệ mạch máu. Sự xuất hiện
của nhiều mao mạch, đặc biệt tại vị trí “điểm nóng” thì có tiên
lượng xấu hơn.
Những yếu tố khác cũng dùng để tiên lượng bao gồm protein kết
hợp với sự xâm lấn, chẳng hạn như collagenase loại IV, cathepsin
D, chất hoạt hóa plasminogen, thụ thể chất hoạt hóa plasminogen,
và gen áp chế di căn nm23. Không một chất nào vừa kể được chấp
nhận rộng rãi như là một yếu tố tiên lượng để đưa ra quyết định
điều trị. Một vấn đề là diễn giải các yếu tố tiên lượng này vì
hầu hết các nghiên cứu không được tiến hành thử nghiệm trên một
số lượng lớn bệnh nhân.
PHÁC ĐỒ BỔ XUNG Phác đồ bổ xung là một liệu pháp điều trị
toàn thân trên bệnh nhân đã được điều trị tại chỗ nhưng có nguy
cơ tái phát cao. Trong một số trường hợp vẫn còn tranh cãi về sự
lựa chọn hóa trị bổ xung thích hợp hay liệu pháp điều trị bằng
hoc-môn. Các phân tích sâu đã giúp xác định mở rộng các giới hạn
cho các trị liệu nhưng không giúp gì trong việc lựa chọn phác đồ
tối ưu hoặc lựa chọn một phác đồ cho từng nhóm bệnh nhân. Một
tóm lược các đề xuất được trình bày trong bảng 76-3. Nói chung,
phụ nữ tiền mãn kinh dù sử dụng bất cứ phác đồ bổ xung nào thì
cũng nên hóa trị đa thuốc. Kháng estrogen (tamoxifen) cải thiện
thời gian sống sót ở phụ nữ tiền mãn kinh có thụ thể estrogen
dương tính. Cắt dự phòng cũng có lợi ích tăng thời gian sống sót
đáng kể (chủ yếu ở phụ nữ tiền mãn kinh có thụ thể estrogen
dương tính) nhưng không được sử dụng rộng rãi ở trong nước. |
| |
 |
| |
| Cũng vẫn còn có tranh cãi dữ liệu trên phụ nữ sau mãn kinh.
Những tác dụng của phác đồ bổ xung chưa rõ ràng hơn so với trên
phụ nữ tiền mãn kinh, mặc dù thấy có lợi ích tăng thời gian sống
sót. Quyết định đầu tiên là nên hóa trị hay dùng tamoxifen.
Trong khi bổ xung tamoxifen cải thiện thời gian sống sót bất kể
tình trạng hạch bạch huyết nách ra sao, thì đối với bệnh nhân
xuất hiện đa hạch bạch huyết, thời gian sống sót chỉ được cải
thiện ở mức độ vừa phải. Vì lý do này, thường dùng hóa trị cho
bệnh nhân sau mãn kinh không có chống chỉ định y khoa hoặc có từ
một hạch bạch huyết dương tính trở lên; tamoxifen thường được sử
dụng đồng thời hoặc sau đó. Đối với phụ nữ sau mãn kinh dùng trị
liệu toàn thân mà có tiên lượng tốt thì có thể dùng duy nhất
tomoxifen. Dữ liệu từ cuộc thử nghiệm trên hơn 9000 phụ nữ của
ATAC chỉ định ngẫu nhiên dùng tamoxifen, anastrazole (một chất
ức chế vòng thơm) hoặc phối hợp cả hai cho thấy anastrozole tốt
hơn tamoxifen hoặc phối hợp cả hai chất trong việc phòng chống
tái phát trong 32 tháng tiếp theo. Cần phải có những nghiên cứu
tiếp về vấn đề liệu những kết quả này có chống tái phát trong
thời gian lâu hơn nữa hay không và/hoặc có những tác động nào
trên bệnh tim mạch hay không.
Hầu hết các so sánh về các phác đồ bổ xung thì cho thấy khác
biệt rất nhỏ, mặc dù thường thấy rằng các phác đồ có doxorubicin
có lợi thế hơn.
Một cách điều trị mới, gọi là liệu pháp hóa trị tân bổ xung
bao gồm việc dùng phác đồ bổ xung trước khi phẫu thuật xác định
và xạ trị. Bởi vì mục tiêu tỷ lệ đáp ứng của bệnh nhân ung thư
vú với điều trị toàn thân đề ra là 75%, rất nhiều bệnh nhân có
thể cắt ngắn giai đoạn, nhiều người áp dụng liệu pháp bảo tồn
vú. Ít nhất đã có một nghiên cứu lớn đã thất bại không chỉ ra
được bất cứ sự khác biệt nào đối với thời gian sống sót khi dùng
hóa trị tân bổ xung này.
Các phác đồ bổ xung khác đang được thẩm tra bao gồm sử dụng
các thuốc mới, chẳng hạn paclitaxel và docetaxel, và các liệu
pháp điều trị dựa trên mô hình sinh vật học hoặc động lực học. Ở
cách này, sử dụng liều thuốc cao duy nhất riêng biệt với các
phác đồ theo chu kỳ tăng liều. Một cuộc thử nghiệm ngẫu nhiên
cho các bệnh nhân hạch dương tính đề xuất rằng các bệnh nhân
được điều trị với doxorubicin-cyclophosphamide trong 4 kỳ rồi
tiếp tục bằng 4 kỳ paclitaxel tăng thêm thời gian sống sót đáng
kể so với bệnh nhân chỉ sự dụng duy nhất
doxorubicin-cyclophosphamide, kết quả này chưa được thẩm định
trên một nghiên cứu lớn hơn. Sử dụng taxane vẫn còn tranh cãi.
Sử dụng điều trị liều rất cao cùng với ghép tế bào gốc trong
phác đồ bổ xung chưa thấy tốt hơn liệu pháp điều trị chuẩn và
không nên sử dụng thường xuyên.
Điều trị toàn thân bệnh di căn Gần nửa số bệnh nhân điều trị
tại chỗ ung thư vú xuất hiện bệnh di căn. Mặc dù một số rất ít
bệnh nhân này có thể thuyên giảm khi điều trị phối hợp giữa điều
trị toàn thân và điều trị tại chỗ, hầu hết là không chống chọi
nổi. Di căn mô mềm, xương, và nội tạng (phổi và gan) mỗi loại
chiếm khoảng 1 phần 3 của di căn. Tuy nhiên, vào thời gian tử
vong, hầu hết các bệnh nhân đều có di căn xương. Di căn có thể
xảy ra bất cứ lúc nào sau điều trị ban đầu. Một nửa di căn lần
đầu xảy ra trong vòng hơn 5 năm sau điều trị ban đầu.
Bởi vì chẩn đoán bệnh ung thư làm thay đổi triển vọng của
bệnh nhân một cách trầm trọng, do đó không được chẩn đoán mà
không làm sinh thiết. Các bác sỹ ung thư đã gặp các bệnh nhân bị
lao phổi, sỏi mật, cường giáp nguyên phát, hoặc các bệnh lành
tính khác bị chẩn đoán nhầm và đã điều trị theo đó mặc dù bệnh
nhân mắc ung thư vú di căn. Đây là một lỗi nghiêm trọng và phải
sinh thiết chẩn đoán cho những bệnh nhân vào bất cứ thời điểm
nào nghi ngờ bệnh di căn.
Lựa chọn liệu pháp điều trị đòi hỏi phải xem xét các nhu cầu
điều trị tại chỗ, thể trạng bệnh nhân, tình trạng các thụ thể
hóc-môn của khối u, cũng như các đánh giá lâm sàng. Bởi vì điều
trị bệnh toàn thân là biện pháp chữa cháy, khả năng nhiễm độc do
điều trị nên cân bằng với tỷ lệ đáp ứng. Một vài yếu tố ảnh
hưởng đến sự đáp ứng đối với điều trị toàn thân. Chẳng hạn, sự
hiện diện của các thụ thể estrogen và progesterone là một chỉ
điểm quan trọng cho điều trị nội tiết tố, khi tỷ lệ đáp ứng khối
u cho cả hai thụ thể đạt 70%. Nói cách khác, bệnh nhân có thời
gian không mắc bệnh ngắn, bệnh nội tạng tiến triển nhanh, bệnh
phổi bạch huyết, bệnh nội sọ dường như không đáp ứng với điều
trị nội tiết tố.
Trong nhiều trường hợp, có thể không cần điều trị toàn thân
khi bệnh nhân đáp ứng tốt với liệu pháp điều trị tại chỗ. Xạ trị
và đôi khi phẫu thuật có hiệu quả làm giảm triệu chứng của bệnh
ung thư, đặc biệt liên quan đến xương. Nhiều bệnh nhân có bệnh
xương hoặc bệnh chủ yếu ở xương có giai đoạn tương đối không đau.
Với những trường hợp này, hóa trị liệu toàn thân có tác dụng vừa
phải, trong khi xạ trị có tác dụng trong thời gian dài hơn. Các
điều trị toàn thân khác, chẳng hạn như strontium 89 và/hoặc
bisphosphonate có thể có lợi ích giảm bệnh mà không có đáp ứng
được mục đích. Hầu hết các bệnh nhân bệnh di căn và chắc chắn
tất cả các bệnh nhân liên quan đến xương nên điều trị đồng thời
biophosphonate. Vì mục đích điều trị là duy trì sức khỏe tốt
càng lâu càng tốt, phải chú trọng tránh các nguy hiểm phức tạp
của bệnh di căn, bao gồm gãy xương bệnh lý theo trục xương và
chèn ép tủy sống. Đau lưng mới xuất hiện trên bệnh nhân ung thư
phải xem xét cấp bách; nếu để chờ xuất hiện các triệu chứng thần
kinh thì đó là một lỗi nghiêm trọng. Di căn vào cơ quan nội tiết
có thể gây rối loạn chức năng, bao gồm suy vỏ thượng thận, giảm
năng tuyến yên. Tương tự như vậy, tắc đường mật hoặc suy giảm
chức năng cơ quan có thể điều trị tại chỗ kết quả tốt hơn so với
điều trị toàn thân.
Điều trị nội tiết tố Mô vú là phụ thuộc estrogen. Cả ung thư
vú di căn và nguyên phát có thể giữ kiểu hình này (phonotype).
Cách xác định chắc chắn nhất liệu một ung thư vú có phụ thuộc
hóc-môn không dựa vào phân tích mức thụ thể estrogen và
progesterone ở khối u. Khối u có thụ thể estrogen dương tính và
thụ thể progesterone âm tính thì có khả năng đáp ứng khoảng 30%.
Khối u có cả hai thụ thể thì khả năng đáp ứng đạt 70%. Nếu không
có sự hiện diện của bất cứ thụ thể nào thì tỷ lệ đáp ứng dưới
10%. Phân tích thụ thể cung cấp các thông tin chính xác để quyết
định điều trị nội tiết tố trái ngược với hóa trị. Vì không độc
và vì một vài bệnh nhân có kết quả phân tích thụ thể âm tính
nhưng đáp ứng với điều trị nội tiết tố, thì nên thử điều trị nội
tiết tố trên các bệnh nhân chắc chắn bị ung thư vú di căn. Tiềm
năng điều trị nội tiết tố được tổng kết trong bảng 76-4. Sự lựa
chọn của điều trị nội tiết tố thường được quyết định bởi độc
tính và có sẵn thuốc. Hầu hết các bệnh nhân điều trị nội tiết tố
hiện nay bắt đầu bằng một chất ức chế vòng thơm thay vì
tamoxifen. Các chất kháng estrogen nguyên chất “mới hơn” có tác
dụng tự nhiên cũng đang được thử nghiệm trên lâm sàng. Các
trường hợp khối u teo lại để phản ứng với việc ngưng tamoxifen (cũng
như việc ngưng liều estrogen dược lý) đã được báo cáo. Sự hình
thành estrogen nội sinh có thể bị chặn bởi sự sinh hóc môn hoàng
thể tương tự - giải phóng hóc-môn trong thời kỳ tiền mãn kinh ở
phụ nữ. Điều trị nội tiết tố bổ xung, bao gồm điều trị với
progesterone, estrogen, và androgen có thể thử ở những bệnh nhân
đáp ứng tốt với liệu pháp điều trị nội tiết tố ban đầu; chưa rõ
cơ chế hoạt động của việc điều trị sau này. Bệnh nhân có đáp ứng
với điều trị nội tiết tố có ít nhất là 50% cơ hội đáp ứng cho
điều trị nội tiết tố lần hai. Ít có bệnh nhân đáp ứng điều trị
nội tiết tố lần hai và lần ba liên tục; điều trị nội tiết tố
phối hợp dường như không hơn điều trị tác nhân hóa học, và phối
hợp hóa trị với điều trị nội tiết tố không có ích lợi. Thời gian
sống sót trung bình của bệnh di căn là 2 năm, và rất nhiều bệnh
nhân, đặc biệt với người già và người có bệnh phụ thuộc hóc-môn,
có thể đáp ứng với trị liệu nội tiết tố từ 3 đến 5 năm hoặc lâu
hơn. |
| |
 |
| |
| Hóa trị Không giống như những ác tính biểu mô khác, ung thư
vú đáp ứng với nhiều tác nhân hóa trị, bao gồm anthracycline,
tác nhân alkyl, taxane, chất chống chuyển hóa. Sự phối hợp các
chất này thấy cải thiện ít nhiều tỷ lệ đáp ứng, nhưng ít có ảnh
hưởng đến thời gian đáp ứng hoặc sống sót. Lựa chọn phối hợp
thuốc thường dựa trên cách dùng của hóa trị bổ xung, và loại
thuốc sử dụng. Trong khi bệnh nhân được điều trị với phác đồ bổ
xung chẳng hạn như cyclophosphamide, methotrexate, và
fluorouracil (phác đồ CMF) thường cùng đáp ứng trong bệnh di căn,
thì các bác sỹ ung thư sử dụng các thuốc mà bệnh nhân chưa dùng
trước đây. Một khi bệnh nhân có tiến triển tốt sau điều trị phối
hợp thuốc thì thông thường nhất là dùng một thuốc duy nhất. Do
sự nhiễm độc đáng kể của hầu hết các thuốc, sử dụng một thuốc
duy nhất có tác dụng sẽ làm giảm nguy cơ nhiễm độc khi dùng
nhiều thuốc một việc có thể có ít nhiều giá trị. Thật không may
vì khi thử nghiệm độ nhạy của thuốc trong phòng thí nghiệm để
lựa chọn thuốc có hiệu quả nhất thì không dạng thuốc nào thể
hiện hữu ích.
Hầu hết các bác sỹ ung thư sử dụng hoặc một anthracycline
hoặc paclitaxel sau khi phác đồ điều trị ban đầu thất bại. Tuy
nhiên, lựa chọn phải cân đối với nhu cầu của cá nhân người bệnh.
Việc sử dụng một kháng thể người đối với erbB2 [trastuzumab (Herceptin)]
phối hợp với paclitaxel có thể cải thiện khả năng đáp ứng và
sống sót ở những bệnh nhân có u di căn có nhiều erbB2. Việc kéo
dài sự sống có tầm quan trọng vừa phải ở các bệnh nhân di căn.
Áp dụng liệu pháp bổ xung thậm chí có lợi hơn. Trong một vài năm
trở lại đây, nhiều thuốc mới nhằm tăng đáp ứng đã được giới
thiệu có tác dụng trên các bệnh nhân đã được điều trị trước đó
bao gồm gemcitabine, capecitabine, navelbine, và etoposide đường
uống.
HÓA TRỊ LIỀU CAO KẾT HỢP GHÉP TỦY XƯƠNG TỰ THÂN Cấy ghép tủy
xương tự thân phối hợp với một thuốc duy nhất liều cao có thể
cải thiện tốt ngay cả trên bệnh nhân trước điều trị. Tuy nhiên,
hiếm khi đáp ứng như vậy, và nếu có, thì rất bền và không chắc
chắn rằng sẽ làm thay đổi lớn giai đoạn lâm sàng đối với hầu hết
các bệnh nhân có di căn trước. Các thử nghiệm ngẫu nhiên không
có nghĩa nhiều và các cách này không được đề xuất do tham gia
lâm sàng nằm ngoài phạm vi nghiên cứu.
UNG THƯ VÚ GIAI ĐOẠN III Khoảng 10-25% bệnh nhân có biểu hiện
tại chỗ, hay giai đoạn III, ung thư vú khi chẩn đoán. Rất nhiều
ung thư dạng này có thể phẫu thuật, trong khi các dạng khác, đặc
biệt là ung thư có liên quan đến thành ngực, ung thư vú viêm,
hay ung thư có các hạch bạch huyết nách thành chuỗi lớn, thì
không thể phẫu thuật. Mặc dù không có thử nghiệm ngẫu nhiên nào
chứng minh hiệu quả của hóa trị, phương pháp này vẫn được sử
dụng rộng rãi. Hơn 90% bệnh nhân có ung thư vú tại chỗ trước cho
thấy đáp ứng tốt hơn hoặc phần nào với phác đồ hóa trị đa thuốc
bao gồm một anthracycline. Sử dụng điều trị cách này sớm sẽ giảm
số lượng lớn bệnh nếu không thì bệnh nhân thì bệnh nhân phải áp
dụng các cuộc giải phẫu cứu vãn tình thế và/hoặc xạ trị. Những
bệnh nhân này nên được quản lý trong các khoa lâm sàng đa phương
thức để phối hợp phẫu thuật, xạ trị, và hóa trị toàn thân. Cách
này làm tăng thời gian sống sót khỏi bệnh khoảng 30-50% số bệnh
nhân. |
| |
| PHÒNG NGỪA UNG THƯ VÚ |
| |
| Phụ nữ đã bị ung thư một bên vú thì có nguy cơ mắc ung thư
vú bên kia khoảng 0.5% một năm. Khi điều trị bổ xung bằng
tamoxifen ở những bệnh nhân này, tỷ lệ mắc ung thư vú kia giảm.
Đối với các mô khác trong cơ thể, tamoxifen có tác dụng có lợi
giống estrogen: duy trì mật độ chất khoáng trong xương, và giảm
cholesterol dài hạn. Tuy nhiên, tamoxifen có tác dụng giống
estrogen tác dụng trên tử cung, gây tăng nguy cơ ung thư tử cung
(0.75% mắc bệnh sau 5 năm điều trị tamoxifen). Tamoxifen cũng
gây ra nguy cơ đục thủy tinh thể. Thử nghiệm Dự phòng Ung thư vú
(thử nghiệm BCPT) cho kết quả hơn 49% giảm ung thư vú trên phụ
nữ dùng thuốc trong 5 năm vối nguy cơ ít nhất là 1.66%.
Raloxifene cũng có tác dụng phòng ngừa ung thư vú tương tự nhưng
có tác dụng khác nhau trên xương và tim. Hai chất này đã được so
sánh trong thử nghiệm phòng bệnh ngẫu nhiên (thử nghiệm STAR). |
| |
| UNG THƯ VÚ KHÔNG XÂM LẤN |
| |
| Ung thư vú phát triển khi một loạt biến đổi phân tử trong
các tế bào biểu mô dẫn đến các hoạt động thậm chí ác tính hơn.
Tăng sử dụng chụp nhũ ảnh dẫn đến chẩn đoán ung thư vú không xâm
lấn thường xuyên hơn. Tổn thương này rơi vào hai nhóm: ung thư
ống dẫn sữa tại chỗ (DCIS) và ung thư tiểu thùy vú tại chỗ. Cách
điều trị hai dạng này vẫn còn đang tranh cãi.
Ung thư ống dẫn sữa tại chỗ (DCIS) Quá sản các tế bào biểu mô
ác tính trong ống dẫn sữa gọi là DCIS. Vẫn còn có bất đồng lớn
khi phân biệt tăng sản không điển hình trong DCIS. Ít nhất là
1/3 trường hợp không điều trị DCIS sẽ tiến triển thành ung thư
xâm lấn trong vòng 5 năm. Trong nhiều năm liền, điều trị chuẩn
cho bệnh này là phẫu thuật cắt bỏ vú (masectomy). Tuy nhiên, kể
từ khi điều trị bằng phẫu thuật cắt lọc khối u (lumpectomy) kết
hợp xạ trị có hiệu quả sống sót tương tự như điều trị ung thư vú
không xâm lấn bằng phẫu thuật cắt bỏ vú (masectomy), dường như
xảy ra một nghịch lý là đề xuất điều trị triệt để hơn cho những
bệnh “ít” ác tính hơn. Trong một thử nghiệm ngẫu nhiên, phối hợp
giữa cắt bỏ diện rộng và xạ trị trong DCIS gây giảm đáng kể tỷ
lệ tái phát bệnh so với phương pháp cắt bỏ diện rộng đơn thuần
tới khu vực lành, mặc dù sống sót như nhau. Không có một nghiên
cứu nào so sánh các phác đồ này với phẫu thuật cắt bỏ vú (masectomy).
Bổ xung tomoxifen cho điều trị phẫu thuật/xạ trị trong DCIS còn
có tác dụng tăng cường kiểm soát tại chỗ.
Một số triệu chứng đặc trưng có thể giúp nhận định các bệnh
nhân có nguy cơ tái phát tại chỗ cao sau phẫu thuật cắt lọc khối
u (lumpectomy) đơn thuần hoặc phẫu thuật cắt lọc khối u
(lumpectomy) kết hợp xạ trị. Triệu chứng gồm tổn thương lớn,
tuổi dưới 40; và các đặc trưng tế bào học như hoại tử, dòng nhân
xấu, thể mụn có nhiều erbB2. Một số dữ liệu đề xuất rằng cắt bỏ
hoàn toàn với việc xác nhận ranh giới bệnh lý rõ ràng thì có tỷ
lệ tái phát bệnh thấp. Khi phẫu thuật kết hợp với xạ trị, tỷ lệ
tái phát <=10% (trên cùng góc phần tư). Căn cứ vào thực tế là
một nửa số tái phát này sẽ là ung thư xâm lấn, khoảng 5% của
nhóm ban đầu sẽ phát triển thành ung thư không xâm lấn. Kỳ vọng
tỷ lệ chết hợp lý cho nhóm bệnh nhân này là khoảng 1%, một tỷ lệ
xấp xỉ khi điều trị DCIS bằng phẫu thuật cắt bỏ vú (masectomy).
Mặc dù không được chứng minh nhưng đề xuất hợp lý hiện nay là
nếu bệnh nhân muốn bảo tồn vú và ở những bệnh nhân DCIS dễ dàng
khu trú, áp dụng phẫu thuật triệt để với sự đánh giá bệnh lý kỹ
càng, tiếp theo bằng xạ trị vú và tamoxifen. Đối với bệnh nhân
DCIS khu trú, cắt hạch bạch huyết nách là không cần thiết. Tranh
cãi vẫn còn đối với câu hỏi cách điều trị nào là tối ưu ở bất cứ
mức độ xâm lấn nào. Bởi vì có nhiều khả năng (10-15%) có liên
quan đến các hạch bạch huyết nách thậm chí tổn thương ban đầu
thể hiện xâm lấn nhỏ, nên cắt bỏ ít nhất hạch bạch huyết nách
mức độ 1 và 2 đối với các bệnh nhân ở bất cứ mức độ xâm lấn nào;
thay thế bằng sinh thiết hạch báo hiệu. Điều trị còn được chỉ
dẫn bằng sự hiện diện các hạch trải rộng trên một khu vực.
Ung thư tiểu thùy vú Quá sản các tế bào biểu mô ác tính trong
tiểu thùy gọi là ung thư tiểu thùy vú (lobular neoplasia). Gần
30% bệnh nhân đã có cắt bỏ tổn thương tại chỗ triệt để phát
triển ung thư vú trong vòng 15-20 năm (thường là ung thư tế bào
ống dẫn sữa thâm nhiễm). Bệnh cùng bên hay bên kia là như nhau.
Do đó, ung thư tiểu thùy vú có thể là tổn thương tiền ác tính
cần phải đề xuất đánh giá nguy cơ ung thư vú sau này, chứ không
phải một thể ác tính của bản thân nó, và việc điều trị triệt để
tại chỗ có vẻ không hợp lý. Hầu hết bệnh nhân nên điều trị bằng
tamoxifen trong 5 năm cùng với chụp nhũ ảnh hàng năm và khám nửa
năm một lần. Các phân tích phân tử tổn thương bổ xung để phân
biệt đối xử giữa bệnh nhân nguy cơ cao cần điều trị bổ xung hay
những người chỉ cần tiếp tục theo dõi là đủ. |
| |
| UNG THƯ VÚ Ở NAM GIỚI |
| |
| Tỷ lệ ung thư vú ở nam là 1/150 so với nữ. Thường biểu hiện
u một bên vú và không được chẩn đoán kịp thời. Do số lượng mô
mềm nhỏ và tính chất bất ngờ của vấn đề, biểu hiện tại chỗ
thường phổ biến hơn. Nếu so tuổi và giai đoạn ung thư vú nam và
nữ, tiên lượng là như nhau. Mặc dù chứng to vú ở đàn ông có thể
biểu hiện ban đầu một bên và không đối xứng, bất cứ khối u một
bên ở đàn ông trên 40 tuổi cũng nên cẩn thận làm sinh thiết. Mặt
khác, phát triển vú đối xứng hai bên hiếm khi là biểu hiện của
ung thư và hầu hết là do bệnh nội tiết hoặc do tác động của
thuốc. Song nên nhớ rằng, nguy cơ ung thư vú cao hơn rất nhiều ở
đàn ông mắc chứng to vú; ở bệnh nhân này, sự phát triển không
đối xứng nên nghi ngờ ung thư. Ung thư vú ở nam giới áp dụng tốt
bằng phẫu thuật cắt bỏ vú (masectomy) và cắt bỏ hạch bạch huyết
nách (phẫu thuật cắt bỏ vú triệt căn sửa đổi - modified radical
mastectomy). Bệnh nhân đã mắc bệnh tại chỗ trước và hạch dương
tính thì nên xạ trị. Khoảng 90% ung thư vú ở nam giới có thụ thể
estrogen, và khoảng 60% các trường hợp bệnh di căn đáp ứng với
điều trị nội tiết tố. Chưa có một nghiên cứu ngẫu nhiên nào thẩm
định liệu pháp điều trị bổ xung trong ung thư vú nam giới. Hai
kinh nghiệm trong quá khứ cho thấy rằng bệnh đáp ứng tốt với
liệu pháp điều trị bổ xung toàn thân, và nếu có chống chỉ định y
khoa, cùng một tiêu chuẩn cho việc sử dụng trị liệu phụ gia ở
phụ nữ nên được áp dụng cho nam giới.
Khu vực tái phát và quang phổ đáp ứng với thuốc xạ trị trong
ung thư vú gần như giống nhau ở cả hai giới. |
| |
| THEO DÕI BỆNH NHÂN UNG THƯ VÚ |
| |
| Mặc dù có các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh tốn kém và phức tạp và một loạt các xét nghiệm đánh dấu khối u, chưa có một
nghiên cứu nào cho thấy thời gian sống sót ảnh hưởng bởi việc
chẩn đoán tái phát sớm. Các nguyên tắc giám sát thể hiện trong
bảng 76-5. |
| |
 |
| |
|
Dịch từ nguyên bản Breast Cancer, Marc E.
Lippman, Harrison’s Principle of Internal Medicine, 16th Edition
bởi
healthconsul@gmail.com tại
www.dulichchuabenh.vn
|
| |
| (Tải xuống bản pdf đầy đủ>>>) |
| |
| Đọc thêm: |
| |
|
Sinh thiết hạch bạch huyết
bảo vệ điều trị ung thư vú |
| |
|
Phẫu thuật ung thư vú |
® Ghi
rõ nguồn "dulichchuabenh.vn" khi phát hành lại thông tin từ website
này dưới mọi hình thức. |
|