Loading

CÁC KHỐI U NGUYÊN PHÁT VÀ DI CĂN CỦA HỆ THẦN KINH

STEPHEN M. SAGAR & MARK A. ISRAEL

Các khối u nguyên phát ác tính của hệ thần kinh trung ương (TKTU) xảy ra trên khoảng 16.500 người với tỷ lệ tử vong hàng năm xấp xỉ 13.000 người tại Hoa Kỳ, khoảng 6/100.000. Tỷ lệ theo lứa tuổi cũng phù hợp với tỷ lệ trên toàn thế giới. Một tỷ lệ tương đương u lành tính được phát hiện nhưng tỷ lệ tử vong thấp hơn nhiều. Các khối u tế bào đệm chiếm 50-60% trong tổng số các khối u não nguyên phát, u màng não chiếm 25%, u bao sợi thần kinh chiếm 10% và còn lại là các khối u TKTU khác.

Di căn não và cột sống từ các ung thư khác thường gặp hơn rất nhiều so với ung thư TKTU nguyên phát. Có khoảng 15% bệnh nhân chết vì ung thư (80.000 người mỗi năm tại Hoa Kỳ) có triệu chứng di căn não, và có thêm 5% bệnh nhân có di căn cột sống. Do vậy, di căn não và cột sống đặt ra vấn đề lớn trong việc điều trị ung thư hệ toàn thân.

CÁC KHỐI U NÃO

TIẾP XÚC VỚI BỆNH NHÂN

Các đặc điểm lâm sàng

Các khối u não thường có một trong ba hội chứng: (1) tiến triển bán cấp của triệu chứng thần kinh khu trú; (2) cơn động kinh; hoặc (3) các rối loạn thần kinh không khu trú như đau đầu, mất trí nhớ, thay đổi tính cách hoặc thay đổi dáng đi. Các triệu chứng toàn thân như khó chịu, giảm cân, chán ăn, hay sốt thường gợi ý tới di căn nhiều hơn là các khối u nguyên phát.

Các triệu chứng thần kinh khu trú tiến triển là do chèn ép thần kinh và chất trắng do khối u xâm lấn và gây phù xung quanh. Ít gặp hơn, khối u não có biểu hiện giống như một cơn đột quỵ - một khởi phát của rối loạn thần kinh khu trú. Mặc dù biểu hiện này có thể do chảy máu trong khối u gây ra, nhưng thường không có xuất huyết và cơ chế vẫn chưa rõ. Các khối u thường gây xuất huyết bao gồm u thần kinh đệm cấp độ cao (high-grade), u hắc sắc tố di căn, và ung thư nhau (choriocarcinoma).

Động kinh có thể do phá vỡ tuần hoàn vỏ não. Các khối u xâm lấn và chèn ép vỏ não, thậm chí khối u màng não rất nhỏ, thì thường kèm theo cơn động kinh hơn so với khối ung thư dưới vỏ não. Các rối loạn chức năng thần kinh không khu trú thường là biểu hiện của tăng áp lực nội sọ, tràn dịch não, hoặc khối u lan tỏa. Khối u ở một số vùng của não có thể gây các rối loạn hành vi, ví dụ như khối u thùy trán có thể biểu hiện thay đổi tính cách, mất trí nhớ, hoặc trầm cảm.

Nhức đầu có thể do kích thích tại chỗ hoặc chiếm chỗ của cấu trúc nhạy cảm với đau hoặc do tăng toàn bộ trong tăng áp lực nội sọ. Đau đầu nặng mà không bớt khi nằm nghiêng là gợi ý của tổn thương khối choán chỗ. Đau đầu do tăng áp lực nội sọ thường đau toàn bộ đầu và đau từng cơn, xảy ra nhiều lần trong ngày. Đau đầu xảy ra nhanh trong vài phút, kéo dài khoảng 20-40 phút, và hết. Đau có thể làm bệnh nhân tỉnh dậy sau khi ngủ ngon khoảng 60-90 phút. Nôn có thể xảy ra khi có đau đầu nặng. Khi tăng áp lực nội sọ kéo dài thì đau đầu liên tục ở cường độ khác nhau. Tăng áp lực nội sọ cao có thể gây phù gai thị, mặc dù thường không có biều hiện ở trẻ sơ sinh hoặc người trên 55 tuổi.

Thang điểm Karnofsky rất hữu ích trong việc đánh giá bệnh nhân có khối u não. Điểm >= 70 thể hiện bệnh nhân có thể đi lại và tự chăm sóc được, thang điểm này thường được dùng để đánh giá chức năng nhằm điều trị tích cực.

Hình ảnh thần kinh

Chụp cắt lớp và chụp cộng hưởng từ có thể thấy có khối chiếm chỗ và tăng độ tương phản. Khối chiếm chỗ phản ánh thể tích mô khối u cũng như vùng phù nề xung quanh. Điển hình thì khối u não gây phù giãn mạch, với tích lũy nước dư thừa ở xung quanh chất trắng. Tăng độ tương phản biểu hiện hàng rào máu não bị phá vỡ trong khối u làm rò rỉ chất cản quang. U thần kinh đệm cấp độ thấp (low grade) thì không có tăng độ tương phản.

Chụp cắt lớp bức xạ Positron (PET) và chụp cắt lớp bằng bức xạ đơn photon (SPECT) có vai trò phụ trợ trong chẩn đoán hình ảnh của khối u não, chủ yếu trong phân biệt khối u tái phát từ mô hoại tử, có thể xảy ra sau khi chiếu xạ (xem bên dưới). Hình ảnh chức năng cùng với PET, MRI hoặc từ não đồ (magnetoencephalography) có thể có thể được sử dụng trong phẫu thuật hoặc phẫu thuật bằng tần số sóng radio để xác định ranh giới giải phẫu của khối u với các vùng não quan trọng như vùng vận động chính hay ngôn ngữ của vỏ não.

Xét nghiệm chẩn đoán

Các khối u não nguyên phát điển hình thì không gây bất thường về huyết thanh như tốc độ lắng máu tăng hoặc kháng nguyên đặc hiệu của khối u tăng. Trái lại, ung thư di căn vào hệ thống thần kinh, tùy thuộc vào loại u, mức độ lan rộng của u, có thể kèm theo các dấu hiệu ác tính toàn thân. Chọc dò dịch não tủy nói chung là không có giá trị trong chẩn đoán các khối u não, ngoại trừ di căn màng não mỏng; u bạch huyết nguyên phát TKTU, các khối u ngoại bì thần kinh nguyên thủy, bao gồm u nguyên bào tủy. Tác dụng cơ bản của chọc dò dịch não tủy trong đánh giá khối u não là để loại trừ chẩn đoán phân biệt khác, chẳng hạn bệnh nhiễm trùng hoặc bệnh mất myêlin. Hơn nữa, chọc dò dịch não tủy có thể làm tụt kẹt não xảy ra sớm hơn ở bệnh nhân có khối choán chỗ và chỉ nên thực hiện ở những bệnh nhân mà chẩn đoán hình ảnh thể hiện triệu chứng các bể nền phù hợp.

Điều trị các khối u não

ĐIỀU TRỊ TRIỆU CHỨNG

Glucocorticoid làm giảm phù xung quanh khối u não và cải thiện chức năng thần kinh; dexamethasone (liều ban đầu là 12-20 mg / ngày chia liều trong uống hoặc tiêm tĩnh mạch) được sử dụng bởi vì nó tương đối ít giữ muối. Bởi vì độc tính khi dùng glucocorticoid dài hạn, phải nhanh chóng giảm liều dexamethasone xuống đến thấp nhất mà có tác dụng làm giảm triệu chứng.

Điều trị động kinh xuất hiện cùng các khối u não cũng giống như điều trị các dạng động kinh cục bộ khác. Các thuốc đầu tiên bao gồm phenytoin, carbamazepin, và axit valproic có hiệu quả như nhau; leviractam và oxcarbazepine cũng sắp được sử dụng rộng rãi. Dùng thuốc chống động kinh nhằm mục đích phòng ngừa đối với tất cả các bệnh nhân có khối u não trên lều thường được áp dụng mặc dù không có bằng chứng nào chứng minh.

U thần kinh đệm và u bạch huyết thần kinh trung ương kèm theo nguy cơ cao huyết khối tĩnh mạch sâu và nghẽn mạch phổi, có thể là do các khối u tiết các yếu tố đông máu vào hệ tuần hoàn. Mặc dù xuất huyết trong khối u thần kinh đệm thường thấy trên mô bệnh học, nhưng bệnh nhân không có tăng nguy cơ chảy máu nội sọ do điều trị bằng thuốc chống đông. Nên dùng heparin liều thấp để dự phòng đối với các bệnh nhân u não không cử động được chi dưới, là các bệnh nhân có nguy cơ huyết khối tĩnh mạch sâu.

CÁC KHỐI U NÃO NGUYÊN PHÁT

Nguyên nhân

Tiếp xúc với bức xạ ion hoá là yếu tố nguy cơ do môi trường duy nhất được ghi nhận gây ra u thần kinh đệm. Một số hội chứng di truyền làm tăng nguy cơ mắc các khối u não (Bảng 374-1). Gen gây các khối u não, cũng như các bệnh ác tính khác, có hai loại, gen áp chế khối u và gen gây ung thư. Trong khi đột biến dòng tế bào mầm của những gen này xảy ra ở những bệnh nhân có hội chứng có khuynh hướng di truyền, hầu hết các khối u não không xảy ra ở những bệnh nhân có những hội chứng dễ nhận biết đó. Cũng giống trường hợp các loại u khác, đột biến soma luôn có mặt trong mô não ác tính. Nhân bản gen của thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì (EGFR) xuất hiện trong khoảng một phần ba các trường hợp u nguyên bào thần kinh đệm đa hình (multiforme glioblastoma – GBM), là các u tế bào hình sao độ cấp độ cao nhất. Hơn nữa, phân tích di truyền học tế bào thường cho thấy sự thay đổi điển hình có thể là dấu hiệu của thay đổi trong nhiễm sắc thể của các gen liên quan đến ung thư. Trong các u tế bào hình sao (astrocytic tumors), ADN thường bị mất trên nhiễm sắc thể 10p, 17p, 13q, và 9. U tế bào thần kinh đệm ít gai (Oligodendrogliomas) thường bị xóa mã của 1p và 10q, do chuyển vị tâm động của nhiễm sắc thể và mất một trong các nhiễm sắc thể bị chuyển vị. Trong u màng não, phần nhiễm sắc thể 22q, chứa gen trong bệnh u xơ thần kinh, thường bị mất.

Bảng 374-1 Các Hội chứng Di truyền kèm theo u não:

Hình sao của biến đổi gen di truyền thay đổi theo từng trường hợp u thần kinh đệm, ngay cả những u thần kinh đệm không biệt hóa trên mô học. Hơn nữa, u thần kinh đệm có tính di truyền không ổn định. Di truyền bất thường có xu hướng tích lũy theo thời gian, và những thay đổi này tương ứng với một kiểu hình ngày càng ác tính. Có ít nhất hai con đường di truyền dẫn đến sự phát triển của u nguyên bào thần kinh đệm đa hình – GBM (hình 374-1). Đường thứ nhất liên quan đến quá trình, thường trải qua nhiều năm, từ một u tế bào hình sao cấp độ thấp bằng việc xóa bỏ của nhiễm sắc thể 17 và bất hoạt của gen p53 dẫn đến một u thần kinh đệm cấp cao ác tính cùng với biến đổi nhiễm sắc thể kèm theo. Đường thứ hai được đặc trưng bởi sự xuất hiện đầu tiên của u thần kinh đệm ác tính cộng với nhân bản của gen EGFR và một gen p53 nguyên vẹn kèm theo các di truyền bất thường khác.

Mô hình bệnh sinh của u tế bào hình sao trên người. U nguyên bào thần kinh đệm đa hình – GBM điển hình thì không có các tổn thương báo hiệu trước, gọi là U nguyên bào thần kinh đệm đa hình mới (De novo GBM) thường kèm theo nhân bản của gen thụ thể tăng trưởng biểu bì (EGFR). U nguyên bào thần kinh đệm đa hình xảy ra kèm theo biến đổi gen lâu dài sau khi đã chẩn đoán u tế bào hình sao ở cấp độ thấp hơn thì ít gặp hơn. Những u này được gọi là U tế bào hình sao thứ phát. Biến đổi thường gặp nhất là đột biến gen p53 và INK4a. Các gen khác liên quan đến sự phát triển một u não nguyên phát bao gồm CDK4, MDM2, DDC, and PDGFR.

U tế bào hình sao (astrocytoma)

Các khối u có hình sao đặc trưng trên mô học là ung thư nguyên phát nội sọ phổ biến nhất. (Hình 374-2). Hệ thống phân loại mô học được sử dụng rộng rãi nhất là hệ thống bốn cấp độ của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Cấp độ I là các thay đổi mô học đặc biệt của u tế bào hình sao xảy ra chủ yếu ở trẻ em và có tiên lượng rất tốt sau phẫu thuật cắt bỏ. Nó bao gồm u sao bào lông ở trẻ vị thành niên (juvenile pilocytic astrocytoma), u tế bào hình sao tế bào khổng lồ dưới màng nội tủy – subependymal giant cell astrocytoma (xảy ra hầu hết ở các bệnh nhân u xơ củ – tuberous sclerosis), và u sao bào vàng đa hình (pleiomorphic xanthoastrocytoma). Đối lập với u nguyên bào thần kinh đệm đa hình (GBM) cấp độ IV, là u đang tiến triển trên lâm sàng. U tế bào hình sao (cấp độ II) và u tế bào hình sao mất biệt hóa (cấp độ III) là trung gian giữa các biểu hiện lâm sàng và mô học. Các đặc tính mô học trong cấp độ cao hơn bao gồm tăng sinh tế bào, bất thường nhân và tế bào chất, tăng sản nội mô, hoạt động nguyên phân, và hoại tử. Tăng sản nội mô và hoại tử là các yếu tố tiên đoán có giá trị cao đối với u đang tiến triển.

Hình 374-2:

U tế bào hình sao ác tính (u nguyên bào đệm - glioblastoma). Hình ảnh tập trung đậm proton tại khớp trán đỉnh trên chụp cộng hưởng từ thùy thái dương biểu hiện một khối u thùy thái dương phải không đồng nhất (mũi tên) chèn ép các não thất bên và não thất ba. Những vùng có tín hiệu giảm – hypointense (mũi tên kép) biểu hiện hoặc bị chảy máu hoặc vôi hóa. Dấu hiệu cường độ tín hiệu cộng hưởng từ không đồng nhất là đặc trưng của u nguyên bào đệm (glioblastoma).

Định lượng hoạt động nguyên phân tương ứng với tiên lượng bệnh. Chỉ số tăng sản có thể xác định bằng nhuộm hóa chất miễn dịch tế bào bằng các kháng thể của kháng nguyên nhân tế bào tăng sản hoặc bằng kháng thể đơn dòng tên là Ki-67 cho kết quả là sự có mặt của proteine histone trong các tế bào tăng sản nhưng không có mặt trong các tế bào không hoạt động.

Tiên lượng bệnh nhân u não liên quan chặt chẽ với các cấp độ mô học của khối u. Trong một nhóm đại diện dân Phần Lan, thời gian sống trung bình là 93,5 tháng đối với u tế bào hình sao cấp độ I hoặc II, 12,4 tháng đối với bệnh nhân cấp độ III (u tế bào hình sao mất biệt hóa – anaplastic astrocytoma), và 5,1 tháng đối với bệnh nhân có khối u cấp độ IV (u nguyên bào thần kinh đệm đa hình – GBM). Mặc dù tỷ lệ sống nói chung là thấp hơn so với báo cáo, nhưng báo cáo chọn nhóm đại diện dựa trên kinh nghiệm và không bị ảnh hưởng bởi lựa chọn thiên vị. Tiên lượng xấu trên lâm sàng ở bệnh nhân trên 65 tuổi và có chức năng kém dựa theo thang điểm Karnofsky.

U TẾ BÀO SAO CẤP ĐỘ THẤP

U tế bào sao cấp độ thấp phổ biến ở trẻ em hơn là người lớn. U sao bào lông – Pilocytic astrocytoma, đặt tên theo đặc tính tế bào hình thoi, là u não phổ biến ở trẻ em và thường là lành tính. Nó thường xảy ra ở tiểu não và có ranh giới rõ với não liền kề. Phẫu thuật cắt bỏ hoàn toàn cho phép bệnh nhân sống khỏi bệnh lâu dài.

Nói chung thời gian sống trung bình u tế bào sao cấp độ II là 5-6 năm. Chưa rõ thời điểm tối ưu để phẫu thuật và xạ trị. Khi mà u tế bào sao đã xâm nhập quanh não thì phẫu thuật cắt bỏ hoàn toàn là không thể. Hơn nữa, u có tính di truyền không ổn định, và tích lũy đột biến theo thời gian, làm u càng tiến triển mạnh. Đối với các bệnh nhân có triệu chứng choán chỗ hoặc động kinh khó kiểm soát, phẫu thuật cắt bỏ có thể làm giảm triệu chứng. Đối với bệnh nhân không có triệu chứng hoặc rất ít triệu chứng, nên làm sinh thiết chẩn đoán, và khi có thể phẫu thuật được, thì nên cắt bỏ khối u. Cho dù xạ trị ngay sau phẫu thuật hay tại thời điểm u tiến triển thì nói chun đều không ảnh hưởng đến thời gian sống, nhưng xạ trị ngay làm chậm tiến triển của khối u. Không xác định được vai trò của hóa trị liệu trong điều trị u tế bào sao cấp độ thấp.

U TẾ BÀO SAO CẤP ĐỘ CAO

Phần lớn các các u tế bào sao phát hiện ở người lớn ở cấp độ cao, trên lều, và không có ranh giới xác định rõ ràng giữa mô bình thường và mô ác tính. Các tế bào khối u di chuyển ra khỏi u chính và xâm nhập vào não liền kề, thường đi theo các đường chất trắng. Các chẩn đoán hình ảnh không chỉ ra phạm vi đầy đủ của khối u. Hầu như các khối u này cuối cùng đều tử vong. Thời gian sống trung bình của bệnh nhân u tế bào sao cấp độ III là dưới 3 năm và khối u cấp độ IV là dưới 1 năm. Thời gian sống lâu hơn trên bệnh nhân trẻ tuổi, tình trạng bệnh tốt, và phẫu thuật cắt bỏ rộng hơn. Giai đoạn cuối của u tế bào sao, đặc biệt ở khối u tại hố sau, có thể di căn theo dịch não tủy (CSF) đến cột sống. Rất hiếm di căn ngoài thần kinh trung ương.

U tế bào sao được điều trị bằng Gluco corticoid, phẫu thuật, xạ trị và hóa trị. Dexamethason thường được dùng tại thời điểm chẩn đoán và tiếp tục dùng trong suốt thời gian xạ trị. Sau khi xạ trị kết thúc, giảm liều dexamethasone đến thấp nhất có thể.

Vì u tế bào sao xâm nhập vào não bình thường vùng lân cận, do đó phẫu thuật cắt bỏ toàn bộ là không thể. Tuy vậy, các nghiên cứu hồi cứu cho thấy phạm vi cắt bỏ khối u tương quan với thời gian sống ở các bệnh nhân trẻ. Vì vậy, các khối u có thể tiếp cận được thì thường được phẫu thuật triệt để. Phẫu thuật được chỉ định để lấy mô làm chẩn đoán tế bào hoặc để kiểm soát choán chỗ.

Xạ trị sau phẫu thuật kéo dài thời gian sống và cải thiện chất lượng sống. Nếu điều trị đơn thuần bằng dexamethasone sau phẫu thuật, thời gian sống trung bình của bệnh nhân u nguyên bào đệm (glioblastoma) dưới 65 tuổi là 7-9 tháng. Với xạ trị, thời gian sống kéo dài tới 11-13 tháng. Đối với các khối u tế bào đệm nguyên phát, xạ trị được dùng đối với khối u choán chỗ, được xác định bằng tăng độ tương phản trên chụp cắt lớp (CT) hoặc chụp cộng hưởng từ (MRI), cộng thêm 2cm rìa ranh giới. T